ĐT:0977993365
0436883903
E Mail: letrungtiet@zing.vn
Dấn thân vào văn chương nghệ thuật là cách tốt nhất để giải thoát nhiều ham muốn, điều quan trọng hơn cả là viết văn để tự sửa mình.
Sửa mình đã khó, viết văn còn khó hơn nhiều.
LTT
letrungtiet | 19 January, 2012 10:25
THÔNG BÁO CỦA BAN SƠ KHẢO CUỘC THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI”
Những bài thơ dự thi đã được Ban Sơ khảo chọn đăng trên Báo Người Hà Nội đã kết thúc vào số Tết Nhâm Thìn. Những bài được chọn đăng còn lại sẽ in thành sách. Cuốn sách sẽ được ra mắt vào ngày trao giải (thời gian trao giải sẽ thông báo sau).
Sau đây là danh sách các bài không in Báo Người Hà Nội nhưng in thành sách:
1) Nguyễn Bá Hoà - Sự tích bến Giằng
2) Phương Gia Phạm Bá Thành - Về Vĩ Dạ
3) Đỗ Hoàng – Làng sáu mốt – Qua Hồng Lĩnh
4) Huỳnh Đường - Gọi
5) Tạ Văn Hoạt - Miền Trung
6) Đặng Quang Vượng - Mắt đá
7) Du An - Gọi mẹ
8) Trần Đức Đủ - Thu mở cúc
9) Lê Văn Ngoan – Bác Tâm
10) Văn Ê – Bên dòng Nho Quế
11) Lê Thị Êm – Xương sông
12) Vũ Mạnh Ngọc - Thạch cầu
13) Tùng Lâm – Con đường
14) Hồ Diệp Khanh – Giao mùa
15) Nguyễn Duy Thảnh – Làng quê
16) Huỳnh Minh Tâm – Khúc ca đất và người
17) Trần Quang Hưng – Gío núi Ba Vì
18) Đặng Thị Điểm – Hương bồ kếp
19) Hoàng Duy Bình - Chị tôi
20) Nguyễn Phi Hùng – Chia nhau kỷ niệm
21) Quân Tấn - Tạ lỗi trước dòng sông
22) Lê Thị Bích Loan – Con “Câm”
23) Nguyễn Minh Châu – Tình quê - Tuổi bảy lăm
24) Thai Sắc - Gửi em chút đồng bằng - Em về với dã quỳ đêm
25) Trần Huy Minh Phương – Du ca – Phiên khúc cuối năm
26) Nguyễn Thanh Hải - Giọt xưa - Cổ tích làng - Lời rẫy ruộng
27) Trương Huy Thiêm - Giấy rách phải giữ lấy lề - Một thưở vàng son
28) Hoàng Xuân Khánh - Lẻ đôi
29) Nguyễn Bá Thính – Phút hoài niệm
30) Vũ Trọng Thái - Xứ Lạng
31) Lê Thị Thu Hà - Mẹ
32) Lê Xuân Hiệp – Ngày mùa – Quê hương
33) Bàn Hữu Tài – Quê mình – Đêm Na Hang
34) Nguyễn Khắc Kình - Chợ quê - Gặp ở cổng chùa
35) Nguyễn Nguyên An – Bí ẩn của biển
36) Điền Ngọc Phách – Ký ức rừng thu
37) Chu Thị Linh Quang – Sông ơi chảy đi
38) Nguyễn Hữu Dụ - Màu xanh gửi em
39) Trần Thị Mai Hoa – Gío – Đêm khuya
BSK
letrungtiet | 11 January, 2012 22:31
HỘP THƯ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI”
HỘP THƯ SỐ 13
Đây là hộp thư cuối cùng của cuộc thi “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” lần 2.
Tính cho đến 31-12-2011 theo dấu bưu điện, Ban Sơ khảo chúng tôi đã nhận được bài dự thi của các tác giả sau:
1) Trần Huy Minh Phương – T.P HCM – 2 bài (gửi lần 2)
2) Cao Ngọc Thắng – Hà Nội – 1 bài (gửi lần 2)
3) Ngô Thị Soi - Bắc Ninh – 7 bài
4) Nguyễn Thị Hồng – Hà Nội – 5 bài
5) Nguyễn Thị Mỹ Thuỷ - T.P HCM – 1 bài
6) Nguyễn Quang – Hà Giang – 3 bài
7) Phạm Ngọc Thảo Dung – T.p HCM – 9 bài
8) Thai Sắc - Đồng Tháp – 5 bài
9) Nguyễn Minh Châu - Nghệ an – 6 bài
10) Trúc Bình - Quy Nhơn – 4 bài ( gửi lần 2 )
11) Ngô Nguyễn - Hà nội – 3 bài
12) Đào Tiến Sinh - Hà Nội – 8 bài
13) Trần Hồng Hải - Nam Định -1 bài
14) Lê Thị Bích Loan - Hà Nội - 5 bài
15) Quân Tấn - Cần Thơ - 3 bài
16) Lê Việt Thắng – Hà Nội - 4 bài
17) Phạm Văn Năm - Hà Nội – 3 bài ( gửi lần 2 )
18) Mẫn Lê - Hà Nội - 6 bài
19) Đào Trọng - Hải Phòng - 4 bài
20) Hồ Nức – Hà Nam - 6 bài
21) Nguyễn Văn Thắng - Hà Nam - 2 bài
22) Nguyễn Phi Hùng - Khánh Hoà - 5 bài
23) Hoàng Duy Bình - Hải Phòng – 10 bài
24) Nguyễn Thị Hoài An –Otraylia - 3 bài
25) Nguyễn Đức Vựợng - Hải Dương – 5 bài
26) Trương Tố Dư - Hải Phòng - 3 bài
27) Vũ Thị Thanh - Thanh Hoá - 3 bài
28) Nguyễn Đình Thăng – Lâm Đồng – 3 bài
29) Nguyễn Duy Quản - Quảng Bình – 8 bài
30) Hồ Thị Yên - Nghệ An – 5 bài
31) Nguyễn Hoàng Hưng - Hải Phòng – 1 bài
32) Nguyễn Thị Ty – Hà Nội – 1 bài
33) Đặng Trần Tuỵ - Hà Nội – 3 bài
34) Nguyễn Bá Thính – Hà Nội – 6 bài
35) Hoàng Xuân Khánh – Hà Nội - 5 bài
36) Lê Thị Kim Thược - Hà Tĩnh – 1 bài
37) Trần Thanh Tuyên – Bà Rịa VT – 3 bài
38) Nguyễn Xuân Hoàn - Vĩnh Phúc - 7 bài
39) Nguyễn Thanh Hải - Tiền Giang – 8 bài
40) Lê Minh Ngân - Thanh Hoá – 4 bài
41) Lê Ngọc Tâm – Gia Lai – 10 bài
42) Lê Văn Thuận - Quảng Ngãi - 8 bài
43) Trần Quang Minh Giảng – Vũng Tàu – 2 bài
44) Trương Hữu Thiêm - Điện Biên – 3 bài
45) Lê Thị Thu Hà – Vĩnh Phúc - 2 bài
46) Vũ Trong Thái - Hải Phòng – 1 bài
47) Trần Thị Mai Hoa – Hoà Bình - 10 bài
BSK
letrungtiet | 04 January, 2012 13:45
Ban Sơ khảo cuộc thi THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI thông báo tới các độc giả.
Theo lịch trình thì tất cả các bài thơ dự thi đã được chọn in sẽ được đăng tải trọn vẹn 2 trang trong một số báo tết NHÂM THÌN như trang Blogs le trung tiet này. Nhưng do Báo Ngưòi Hà Nội số lượng trang quá hạn hẹp nên chỉ đăng tải 1 trang, trang còn lại chúng tôi sẽ in thành sách. Ban Sơ khảo cuộc thi thông báo tới các tác giả và Quý độc giả.
BAN SƠ KHẢO
letrungtiet | 31 December, 2011 23:49
CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN số Tết Nhâm Thìn
Phạm Vân Anh
GỌI MÙA YÊU ĐẮM SAY
Mình ơi!...
Gọi tên anh giữa ban mai cỏ thơm
Thức dậy tiếng chim gù xanh thảng thốt
Bừng tỉnh phím độc huyền ngủ quên bên ô cửa nhện giăng
Gõ cửa đàn kiến nâu lặng lẽ xếp hàng ra khỏi tổ
Giục giã hạt phù sa miên man hành trình tìm tới biển
Như tiếng em tìm anh trong sớm xuân này
Gọi chỉ là gọi thôi
Để nghe thiên nhiên âm thầm hồi đáp
Cỏ cây như hiểu ý chúng mình
Cũng rộn ràng tình tự…
Cũng rộn ràng hứa đôi…
Mỗi sáng
Gọi tên anh giữa vườn xuân
Ngàn mắt xanh trìu mến ánh nhìn
Tia nắng rối ươm má em thơm rơm
Sương mai đẫm môi hôn ngọt dịu
Gió sông Hồng ấm siết những vòng ôm
Mình ơi!...
Có phải tên anh ươm tình trên lá biếc?
NÓI VỚI CON VỀ QUÊ HƯƠNG
(Cho Cải Xoong)
Viết cho con những ngày thao thức mẹ
Khi cơ thể căng theo gót chân con chòi đạp đêm đêm
Mẹ thấy mình vĩ đại như trái đất
Đằm thắm ủ trong lòng điều huyền nhiệm
Là con!...
Muốn nói với con bao điều về quê hương của cha
Nơi tên đất gắn liền cùng con trong hành trình đời
bằng hai từ “Nguyên quán”
Mảnh đất Sơn Nam Thượng nghìn năm
còn vọng vang tiếng chày lúa Thậm Thình
dẻo thơm, hiếu thuận bánh Trời, bánh Đất
tay gái tay trai dựng nỏ, chuốt tên
hồn chim lạc hoan ca nhịp trống đồng sau cơn binh lửa
Tuổi thơ của cha con tắm trong những mùa phù sa ăm ắp
Lúc sông Cái dịu dàng vỗ về bãi lúa, bờ ngô
Tuổi thơ của cha con nổi chìm theo vớt từng thân gỗ
Lúc sông oằn mình đổ lũ xuống hạ du
Và,…
Khi gió đồng mê mải dệt ban mai trên ruộng sắn cằn
Những mẻ cọ om, những thưng trám muối
Đỡ lòng người lúc tháng giá, ngày giông
Cha gửi lại tuổi thơ trong xa xưa nghèo khó
Quà mừng con ra đời của cha là câu xoan ghẹo
Là đôi mắt trong veo nước dòng Lô
Là sống mũi hiền dãy Hùng Sơn đất Tổ
Là năm ngón tay ngoan mướt búp cọ non
Ơi con gái
Mặt trời xinh của mẹ
Loài chim ngủ đang thì thào
mách lẻo bao điều kỳ diệu về con
Cô bé con sinh ra giữa bầu trời sao
Nương tinh cha, huyết mẹ mà đến với cuộc đời này
Cải Xoong sẽ mang theo con dáng hình quê hương mẹ
Bóng nắng biển này rồi sẽ là đôi má bồ quân con
Dòng sông Cấm thao thức trôi ngoài kia
huyền hoặc đen mái tóc con
Ban mai trên đầu sóng rạng rỡ nụ cười con
Miền đất này con có bà, có dì, có cậu
Nếu một mai vắng mẹ…
Bình yên con yêu nhé
Mẹ đã sẵn tay nâng dẫu có gặp cánh mềm
Nương bóng quê hương rồi con khôn lớn.
Nguyễn Ngọc Hưng
GIẤC MƠ LÀNG
Loằng ngoằng tay cỏ xanh
Ôm ấp đất nâu lỗ chỗ
Mộng mỵ dấu chân mơ ngược phố
Rưng rưng về trước cổng làng
Cùng chiếc lá vàng chơi ván đáo dở dang
Mở rộng rào tre vốn đã lưa thưa khép hờ năm tháng
Sờ sẫm vách đá ong tìm vết mưa nắng rạn
Nhặt hòn bi ve vật vạ bên đường…
Gió hoang lung chợt sững lại góc vườn
Núm ruột ngày xưa đã mọc lên thành đụn mối
Xao xác rơi từ những tầng mây nổi
Mảnh hồn ai
U uất gọi chiều
Đâu rồi bóng dáng thương yêu
Ráng như máu đỏ ra từ tiếng cuốc
Dải tang trắng
Cành cây xanh rút ruột
Đắng mắt người rin rín giọt hoàng hôn
Chẳng ai dại khờ đem kỷ niệm đi chôn
Chỉ vô ý bụi thời gian vùi lấp
Lập loè ký ức ma trơi
Nguồn sáng vỡ đâu dễ gì huân tập
Dế giun nào bốc mộ thời gian?
Làm sao gỡ nổi giấc mơ làng
Đêm mười ngón gai tre cào nát ngực
Văng vẳng mơ hồ tiếng chuông hư thực
Có rồi không
Tia chớp loé ngang trời…
SÔNG VỆ NHỚ THƯƠNG
Đâu chỉ là đôi chấm nhỏ nhớ thương
Mà tất cả vui buồn tôi ở đó
Một cánh bướm hoa một con chuồn cỏ
Cũng rưng rưng gợi muôn nỗi khóc cười
Đâu chỉ là nơi hạt bụi hoá người
Mà tất cả cuộc đời tôi ở đó
Đèn hạt đỗ chập chờn trang sách nhỏ
Đã vỡ lòng bao nghĩa lý lớn lao
Đâu phải không dưng đất thấp trời cao
Mà mưa nắng vơi đầy con nước chảy
Ơi sông Vệ, dù lặn sâu tận đáy
Con bống nâu vẫn mơ đớp trăng vàng
Đồng xanh mênh mang dâu biếc ngút ngàn
Mỹ Hưng đấy - nơi chôn rau mình đấy
Hỏi có nơi nào gió thơm đến vậy
Hoa nối hoa, mùa quả chin nối mùa
Lúc bay lên phiêu phưởng tiếng chuông chùa
Khi vời vợi giọng đò đưa đêm vắng
Nào ai biết sau luỹ tre bình lặng
Bao cánh chim vườn vẫy mộng tha phương
Ngoại hoá mây rồi mẹ cũng hoá sương
Xa biền biệt em hoá gì chẳng rõ
Ngơ ngác về soi bụi đen bụi đỏ
May dòng quê chưa quên mất mặt mình…
Đâu chỉ là nơi cất giữ nghĩa tình
Văn vắt nước trong lọc niềm dâu bể
Xơ xác ngày va bão giông trần thế
Đêm dịu dàng trăng sông Vệ tái sinh!
GÓP ĐÁ DỰNG TRƯỜNG SA
Quần đảo Trường Sa đảo nào cũng đá
Rất hoang vu và cũng rất gan lì
Chỉ những ai đủ tự tin đến đó
Mới xứng là có bản lĩnh nam nhi
Quần đảo Trường Sa đảo nào cũng đẹp
Dẫu nổi dẫu chìm vẫn rất thân thương
Mỗi hạt cát mỗi nhành rêu cọng cỏ
Đều cho ta những rung cảm lạ thường
Quần đảo Trường Sa đảo nào cũng sang
Không bởi dư dôi ánh điện mặt trời
Mỗi khuôn mặt một vầng trăng lặng lẽ
Ơi những anh hùng canh giữ biển khơi
Quần đảo Trường Sa đảo nào cũng quý
Không chỉ đó là cương thổ giang san
Ngư trường lớn những mỏ dầu khí lớn
Kho báu mênh mông biển bạc biển vàng
Quần đảo Trường Sa đảo nào cũng ấm
Chẳng còn chỗ nào cho trống lạnh mắt buồn
Che mưa nắng phong ba xoè rộng tán
Bão xoay tròn sáu mặt trái bàng vuông
Quần đảo Trường Sa đảo nào cũng rộn
Tiếng cười vui của lính trẻ trăm miền
Đã một về đây chan hoà tất cả
Chia sẻ từng mẩu báo lá thư riêng
Quần đảo Trường Sa đảo nào cũng thiêng
Không chỉ dấu chân máu hồng đã đổ
Có cỏ xanh có sóng xanh làm mộ
Theo nước mây hồn dõi đất liền.
Nguyễn Hưng Hải
TRƯỚC BÃI ĐÁ SA PA
Sa Pa
Bãi đá chữ Việt cổ
Âm âm lòng người
Bời bời hồn chữ
Bãi đá giữa trời
Câu thơ hay bài sử
Biết cha ông nhắn gửi điều gì?
Không đọc được cha ông ta như đá lầm lì
Sờ tay vào đá
Gặp dấu vân tay mênh mông biển cả
Lời cha ông nhắn gửi chẳng vô tình
Xin nhận về sâu thẳm những đinh ninh
Biết đâu rồi đọc được
Phủi lớp bụi thời gian trên vết xước
Ta như là đứa trẻ mới sơ sinh?
10-2011
NƯỚC
Khi dưới đất, lúc lên trời
đục trong giọt nước luân hồi tháng năm
lách qua đá, hoá mạch ngầm
buồn vui ai dễ gì cầm trên tay
Tan vào ngọn cỏ, lá cây
dâng thành sóng, tụ thành mây – xa gần
đá còn bị nước xoay vần
nước mài mòn vẹt, nước dâng ngập đầu
Chém chẳng đứt, cứa không đau
ở trên mặt, dưới bùn sâu – một lòng
đục trong cứ chảy theo dòng
khi sôi, khi lạnh vẫn không mất mình
Dễ gì đổi dáng thay hình
dẫu ngoài biển lớn, trong bình nhỏ con
không chia đường rộng lối mòn
thuyền trăm ngả lướt, trăm đường lại qua
Nâng thuyền lên vượt phong ba
nhấn thuyền xuống đáy cũng là nước thôi
dù dưới đất hay trên trời
chẳng bao giờ nước chịu rời nhau ra
Đục trong thì cũng chan hoà
cách ngăn sao được dẫu là li ty
không có nước chẳng còn gì
bay hơi là để lại đi về nguồn…
Việt Trì, 11-2011
Cao Ngọc Thắng
NÔNG THÔN
Nông nhàn trâu doãi nằm lim dim
Làng vắng hoe
Ruộng lúa, bãi rau nhẩn nha lớn
Thời tiết năm nay lật bàn tay
Đất không nghỉ người quay quầy tối mặt
Bưng bát cơm dự báo bão cấp ba
Đê oằn lưng chống từng cơn lũ
Đồng trắng nước nắng đổ lửa
Ruột gan bầm cây lúa nghẹn mùa sau
Trở lại im lìm
Đa tắm nắng tre gội trăng
Trâu nhai rơm trệu trạo
Trời lạnh trẻ con chân trần
Kỳ học phí mẹ thẫn thờ cha gắt
Mùa qua mùa rạc kiệt
Ruộng mật hẹp dần
Vẫn bươn bả ruộng đồng thời vụ
Vẫn thắc thỏm ngóng tiết thuận hoà…
Lê Xuân Hiệp
NGÀY MÙA
Ngày mùa tháng sáu
Vụ chiêm giáp hạt
Cái đói đẩy ngày mùa như gần hơn với khoảng cách ngày tháng
Đã từng có lúc
mẹ đi gặt hạt lúa non nửa xanh nửa vàng về cho đàn con trước vụ
Bông lúa đập vội không bỏ sót một hạt cho lũ kiến đen, kiến đỏ tha về tổ
Bông lúa hình thoi, bông lúa hình vuông, hình tròn, hình cơm trắng dẻo dai thơm nức mùi gạo mới
Năm nào cũng thế
Gạo mới vụ chiêm
Nồi cơm đầy lũ con dại nu nống không còn khóc nấc cái đói thoang thoảng nửa chiều
Bát cơm nguội trắng ngần với cái cà muối thâm thâm như áo bà, áo chị…
Sau ít ngày nắng
Những thửa ruộng mấy chốc cũng vàng rực chân trời
Ngày mùa về
Lại thương
Dáng mẹ ngoài đồng gặt, đập, sàng, sẩy…
Dáng cha lại còng hơn cho đường cày mẩy đất để hạt thóc mùa sau thêm trĩu nặng
Dáng bà lưng còng bát cơm xới hai lần chưa đầy đã vội bỏ lại chạy đua với ông trời, với cơn giông gió hay những cơn mưa bất chợt trưa hạ
Lại thương
Dáng chị dưới mưa cái nón rách không che nổi mái tóc chấm vai lúa ngẩng mặt hứng giọt mưa như đợi chờ dòng hạnh phúc cho tuổi hai
mươi màu da dạn nắng . .
Đứa em thơ theo mẹ ra đồng cũng gặt, cũng cắt, cũng để lại tuổi thơ ngọt bùi với đồng với ruộng, với cào cào, châu chấu.
Ngày mùa bao trùm lên tất cả là nắng Nam, là gió Lào, là giông, là bão…
Là mồ hôi, là đêm không ngủ của cha, của mẹ, của những nông dân hai sương một nắng.
24-6-2011
QUÊ HƯƠNG
Con không thể định nghĩa nổi quê hương
Khi từ điển đã tràn đầy nỗi nhớ
Quê hương trong con là bóng mẹ xa vắng
Con đường đất mòn chở nặng tình thương.
Con không thể định nghĩa nổi quê hương
Khi sông Đáy của con còn chảy mãi
Cánh diều chao đầu trong chiều gió vội
Nũng nịu đòi quà mỗi buổi chợ quê tan.
“Quê hương con là dòng sông bến lở
Bãi dâu xanh in bóng nước màu xưa
Màu nỗi nhớ con thời bé dại
Buổi đến trường trốn học tắm dưới mưa.
Quê hương con là con đò kỷ niệm
Xô sóng mềm gạt nước đuổi bèo tây
Chùm hoa dại giỡn ánh mắt trẻ nhỏ
Nghiêng nghiêng mình cùng nước chở ước mơ”.
Con trở về định nghĩa quê hương con
Chỉ là ba, là mẹ, là anh chị
Là cánh đồng, là lời ru trưa hạ
Là những gì của ký ức ngày xưa.
18-3-2005
Bàn Hữu Tài
(Dân tộc Dao)
QUÊ MÌNH
Những nóc nhà chênh vênh
Sớm chiều trên gác mái
Thường nghi ngút khói củi
Khi đất trời ru xuân
Lùi cày cha nghiêng ngả
Khom người hạt mẹ tra
Tối trời dơi vào nhà
Mẹ cầm chổi đuổi bắt
Ngọn đèn dầu lắt lay
Đồi đỏ lá xau xau
Núi cao soi bóng núi
Sau nhà trắng bông lau
Bếp lửa người ngồi quanh
Khói nhoè cay mắt đắng
Lửa say mặt ửng hồng
Nơi ấy lối ngoằn ngoèo
Đi qua đèo qua suối
Người đi vắt dõi theo
Em, con người bé nhỏ
Em, con người vùng cao
Ngẩng đầu thổi khói núi
Cho trời xanh thêm cao.
Thái Nguyên, 27-8-2010
ĐÊM NA HANG
Tặng Bàn Văn Tăng
Đêm về bên bếp lửa
Tiếng Tày xen tiếng Dao
Mắt nhìn nhau lúng liếng
Men rượu ngô, rượu đao(1)
Mưa núi giăng tứ phía
Em cất điệu “trình yều”(2)
Anh đáp “phơi”(3) bẩy chữ
Nói lời người chớm yêu…
Na Hang, 12-2009
(1) Một loại cây thường mọc trên đồi núi, có thể lấy tinh bột để làm rượu.
(2) Một điệu hát tỏ tình của người Dao.
(3) Thơ (tiếng Dao).
Nguyễn Khắc Kình
CHỢ QUÊ
Bãi sông cải đã lên ngồng
Cò bay phía núi, gió đông tìm về…
Bếp than hồng quán chợ quê
Hàng ngô nướng, bánh đa kê… chào mời
Ấm lòng bát nước chè tươi
Thơm nồi sắn luộc hương đồi về đây?
Mớ rau, con cá trao tay
Sẻ san lon gạo đong đầy thưng ngô
Nói cười chào hỏi bán mua
Xua tan cái rét gió mùa đi qua…
GẶP Ở CỔNG CHÙA
Tay run ngửa nón cổng chùa
Nón mê hứng những giọt mưa giữa trời…
Cụ già chừng tuổi mẹ tôi
Lưng còng sát đất nghẹn lời “con xin”…
Mắt già chờ một ánh nhìn
Chờ thơm thảo giữa trăm nghìn người qua?
Những là mặt phấn mày hoa
Mâm đầy lễ vật… người ta lộc dày!...
Mưa rơi thấm ướt vai gầy
Đồng tiền lẻ ướt trên tay người già…
Gió lùa hương khói nhạt nhoà
Dẫu rằng lác đác vẫn là… rơi mưa!
Nguyễn Nguyên An
BÍ ẨN CỦA BIỂN
Tôi tập rỗng lặng
Lòng cứ đầy lên bao điều ước
Chạm trống không và ngại trắng tay
Tôi cố làm thật đầy
Loanh quanh có có không không
Đời vẫn cạn, tay trắng, trắng hơn
Tôi hỏi lòng biển
Sao biển không bao giờ cạn
Biển trả lời
Hãy biết ban cho.
Huế, 22-7-2011
Điền Ngọc Phách
KÝ ỨC RỪNG THU
Đã trở về rồi đó núi rừng ơi
Lắng tiếng suối ngân, lắng lời cây hát
Thông reo mở nguồn, phi lao tấu nhạc
Bâng khuâng tìm vạt nhớ vạt thương
Chừng đâu đây tăm tắp những con đường
Còn run rẩy bạch đàn xanh vợi nắng
Còn khúc khuỷu những bậc thang lên xuống
Giục hàng keo, tai tượng khéo vươn xanh
Một chút buồn tiềm ẩn ủ trong anh
Như “Krúc” tiếng chim chiều gọi bạn
Sương chợt tan mà nắng vàng chợt loãng
Nắng đầu thu gợi nhớ thuở ban đầu
Xin thu đừng giăng mắc lắm cho nhau
Đôi mắt ấy, mảnh lưng chiều nắng ấy
Thăm thẳm trong anh ký ức sâu đến vậy
Giục cành non khuơ gió níu bàn tay
Nhát cuốc nào vun gốc ấp cho cây
Khoẻ khoắn cây vươn, tráng cường anh ước
Chưa khum kịp lòng tay, hạnh phúc kia đã tuột
Như vạt xanh rừng hoang kiệt dám hồi sinh
Xin một lần thôi ấm lại ân tình
Thuở xốc nổi đội đất cằn bật nhú
Mới mẻ bao nhiêu rồi lá cành cũng cũ
Chỉ tình rừng, tình suối vẫn âm vang
“Ta về đây…” trong ngút ngát đại ngàn
Mặc dây cuốn chân, mặc cành bới tóc
Nghe suối nguồn reo, gió ngàn lay thức
Tiếng thu chiều “Krúc” cuối rừng xa.
Trọng Thu Canh Dần (2010)
Chu Thị Linh Quang
SÔNG ƠI CHẢY ĐI
Người đàn bà khóc hết nước mắt cầu xin người đàn ông trở lại
Anh vẫn lao đi
Hoàng hôn tím tái phản chiếu vào đôi đồng tử mở to của chị
Người đàn bà mím chặt đôi môi
Và bật dậy giữa đất trời giông tố
Mắt bão ở đâu – chị sẽ đi thẳng đến đó
Để giữ lấy bình yên cho mái nhà của mình
Người đàn bà sững sờ nhìn tình địch
Một phụ nữ gày gò, đen đủi, xấu xí
Người đàn ông đang lấy cả thân mình che cho cô
Chị đã nhận ra cô bạn mình xưa đi thanh niên xung phong…
Chị lại về đứng bên dòng sông
- Sông bao nhiêu nước cho vừa?
- Chảy về đâu?
- Mang đi đâu?
Bao giọt nước mắt của đời người?
- Sông ơi, chảy đi!
2007
Nguyễn Hữu Dụ
MẦU XANH GỬI EM
Mẫu đá sắc hoa… rừng nhiều thứ quý
Anh chọn màu xanh gửi em
Màu xanh gói những điều thầm kín
Về cuộc đời cùng năm tháng
Những tán lá xanh mái lợp rừng già
Tán lá xoè ô ngăn trời nắng lửa
Cho anh trú mưa xối đầu ngày hạ
Ấm những đêm đông mầu xanh xanh thêm
Anh đi giữa mầu xanh thân quen
Từ độ cao ngàn thước
Mầu nước, mầu mây với cây là một
Như mầu xanh mái tóc em
Khóm nứa, khóm giang lá xoè bàn tay
Cây dẻ, cây lim bóng tròn trưa nắng
Càng lên cao đỗ quyên càng thắm
Đỉnh trời rêu phủ kín bước chân
Mầu xanh của rừng ơi mầu xanh
Có tình anh trong ấy
Như những chiều em thấy
Ở mỗi dáng cây hướng núi lưng đèo…
Màu xanh năm tháng mưa nguồn chớp biển
Theo con nước xuôi về anh gửi đến em.
letrungtiet | 21 December, 2011 18:23
CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN
|
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Cánh đồng
Tôi muốn được gục đầu vào rơm rạ làng tôi và khóc
Những giọt nước mắt của tôi hoà cùng nước mắt của mẹ tôi, bà tôi, chảy ngược về thời đất chưa được khai sinh
Những người nông dân với bình minh trong đáy mắt
khẩn hoang từng luống, từng luống cày
Trên cánh đồng này
cha ông tôi gieo đời mình thành từng hạt thóc
Từng hạt từng hạt lặng lẽ phủ xanh mặt đất
rồi vẫn chưa thể ngủ yên trong những nấm mồ
Từng đêm những con đom đóm lập loè
Hồn của những người nông dân làng tôi bỏ quê ra thành phố
Họ đang đập cánh trở về trong những giấc mơ
Tôi nghe tiếng họ loé lên trong bóng tối
u u đẫm ướt cánh đồng
Tôi nghe đau nhói những bước chân
của những người phụ nữ làng tôi lưu lạc
khắp Hà Nội, Bangkok, Huế, Sài Gòn, Đài Bắc…
Họ mòn vai gánh nỗi nhọc nhằn
rưng rưng nghe rơm rạ héo tàn trong ngày úa
Những cánh đồng làng tôi khát thèm hương lúa
Cỏ dày lên chằng chịt nỗi buồn
Cỏ trùm lên con đường làng
chỉ còn dấu chân người già và trẻ nhỏ
Trai tráng làng tôi bỏ quê ra thành phố
Mỗi giọt mồ hôi đổi một đồng bạc lẻ
Họ lặng lẽ
chấp chới bay trong mơ về cánh đồng làng
nơi rơm rạ héo tàn trong đêm úa
Tóc bà tôi và tóc mẹ tôi đã vắt kiệt thời trinh nữ
trên mảnh đất này
Cánh đồng ơi!
Tôi thèm được gục đầu vào rơm rạ làng tôi và khóc.
Mưa
Tôi cuộn mình trong mưa
Những hạt tuổi thơ
Rơi về
Bỏng rát
Mưa chưa hề chớp mắt
ba mươi tám năm
Ngày mẹ sinh tôi mưa tràn mặt đất
Tiếng ễnh ương hoà tiếng khóc của tôi
Tôi lẫm chẫm cùng hoa xoan, hoa gạo
Những trận mưa hoa trút xuống trước hiên nhà
Tôi đội mưa đi bắt cua bắt ếch
Mẹ đội mưa về từ cánh đồng xa
Tôi lớn lên bỏ mưa biệt xứ
Hun hút hạn khô thăm thẳm xứ người
Khát một luỹ tre, bờ ao, giếng nước, con đường đất đỏ mưa rơi
Trong giấc mơ về bên kia quả đất
Trăng tròn đầy trên mái tóc mẹ tôi, tôi cùng mẹ xay một mùa lúa mới
Hương thơm tràn mưa lên tôi
Mưa rơi, mưa rơi!
Tôi cuộn mình trong mưa
Những hạt tuổi thơ
Trong mơ
Bỏng rát…
Nghe thơ ở làng Chùa
“Thơ ca không làm ra lúa vàng, gạo trắng, nhưng thơ ca làm ra giấc mơ cho người gieo trồng”
Lời người làng Chùa
Vẽ số phận bằng đường cày
Những người nông dân bước ra từ ngày vất vả
Tấm áo bạc sờn của họ căng gió
những cánh buồm thơ
Và đây, tôi nghe thơ họ ngân lên giữa làng Chùa
Mạch thơ chảy miên man từ đất, rần rật qua bão gió, nồng nàn tươi đỏ những đôi môi
Linh hồn Làng Chùa ùa vào tôi dào dạt
Sông Đáy ùa vào tôi dịu mát
Thơ hào sảng cất lên tiếng hát, thơ đang gieo trồng cho những giấc mơ, thơ vang vang cùng tiếng chuông chùa, thơ cong cong mái đình cổ tích
Làng Chùa của những người nông dân chân đất
Chân bám bùn bén rễ những câu thơ
Tay cấy lúa thơ trổ đòng cùng lúa
Xung quanh tôi những người - ươm - chữ
Gieo cấy tự do và vẻ đẹp cội nguồn
Họ hái gặt cho tôi vạn vạn mùa thơm
Những mùa chữ luôn nảy mầm - không ngủ
Trên những cánh đồng làng Chùa thơm hương chữ
giọt giọt mồ hôi tung cánh thơ
NGUYỄN GIÚP
Gò Nổi
Những thân lúa, thân bắp xanh từ đất đai
Những hạt sương tinh khiết từng giọt mà thành ban mai
Những phù sa vùi lấp đời mình mà thành bãi bờ điền địa
Hạ lưu con sông lang bạt dễ đâu quy hàng
Gò Nổi có phải mồ chôn con sông tự chết?
Linh hồn con sông thoát xác đi về triền dâu
Linh hồn con sông lẩn vào có lau
Linh hồn con sông hoá thân con người dung dị
Linh hồn mọc ra những buổi chiều mọc ra những ban mai
Buổi chiều nghe tiếng con heo kêu
Ban mai nghe tiếng con gà gáy
Giục lòng cái ăn, cái mặc
Trái bắp, củ khoai thẳng mặt một lời
Đói thì cạp đất mà ăn…
Cha mẹ nuôi con cơm trắng cá sông
Cha mẹ dạy con roi dâu với điều nhân nghĩa
Trái ớt cay đỏ mặt tía tai mà khoái chí
Con phải bơi qua sông con mới được làm người!
Như trận mạc và thi ca cần mặt trời
Như cỏ cây cần nắng
Như kẻ sĩ biết nương đâu dưới bóng tùng bóng trúc
Khỏi tiếng chim kêu mà giật mình!
Thân cha mẹ đầy đồng lui hui cày cuốc
Rồng bay lên nóc nhà thờ tộc
Hạc ra nghĩa địa đứng nhìn
Con đường không tên vặn nhánh
Gạo muối tứ phương tàn tro áo giấy
Nhíu nhăn mặt mày khăn đóng áo dài cưỡi hẫng thanh xuân
Thụng thịnh mắt nhìn gia phong khởi chinh cổ
Ngửa mặt lên trời sập xuống đất đai bổn mạng
Vái lạy tổ tiên độ trì noi gương nhân kiệt mà giang sơn
Cốt cách anh hùng áo vải mà chí lớn
Chí lớn bọc lá gừng lá nghệ mà vạn dặm mai sau
Những Hoàng Diệu, Phạm Phú Thứ, Phan Khôi…
Và máu trổ hoa thời những người đàn bà đánh Mỹ
Gò Nổi - một lát cắt tối ưu toàn cục!(*)
Gò Nổi tôi về mùa con sông nước lớn
Gò Nổi thẳm xanh
Thương em ngày trở trời
Gió lay chân ruộng
Đàn sếu bay
Đàn sếu bay…
(*) Phương pháp “Lát cắt Tuỵ” của Giáo sư Hoàng Tuỵ.
Nhà ngoại tôi trăng lên
Nhà ngoại tôi bên kia sông
Nơi phù sa cơi cánh cò trắng bãi
Em chăn bò rắc vàng ngọn cỏ
Tăm cá lặn xuống chiều biệt tăm
Những ngày cánh nâu đầu trần
Ấu thơ bay không qua triền đồi
Em đứng đợi hoa ngô bật nụ
Tím bầm khúc sông
Những đôi mắt xanh đuổi theo chiều thẳm xanh
Âm ba trăng non gội tóc
Gàu khua rụng giếng làng
Sực nức em
Đinh ninh sông đã rằm
Đinh ninh ríu ran kẻ ngực
Đêm tràn giấc mơ chẽ đôi ao nhà
Tôi mang một nửa em ra đi
Quê ơi ngày mẹ tôi xưa đầy đặn
Cha tôi xưa dặm trường
Cớ sao em không đi bên đời tôi cho hết thảy như cha mẹ tôi với nhau
Cớ sao em không ra sông nhìn nướe chảy
Cớ sao em không bội thực tình yêu của tôi dành cho em
Cớ sao em qua cầu cho tôi bạt xứ
Và… như đã mùa màng rơm rạ ngủ
Cứ phù sa vô tội sông lở bồi đâu đâu
Gom hết tuổi mình xoè bàn tay lật gió
Nỗi buồn mộng du
Quê nhà chừ mặt sông ngầu ngầu say
Liêu xiêu bóng núi
Chắc đường về còn xa?
Bên kia sông đã mấy lần em mười lăm mười sáu
Khuya khoắt một nụ rằm
Nhà ngoại tôi trăng lên?
VŨ MINH THOA
Tháng Ba
Một sáng tháng Ba
Bà ngồi bậu cửa
Nâng cối giã trầu - đôi tay gầy nhỏ bé
Đục mờ ánh mắt dõi trời xa.
Bà bảo: nắng mới như gấm hoa
Cháu bảo: nắng vàng như lụa
Bà nhìn cháu cười nhăn nheo đôi má
Rồi lom khom cõng nắng ra vườn.
Bà hái những giọt sương
Bà cắp đầy rổ nắng
Cháu bước theo bà - theo tiếng cười móm mém
còn dính mấy hạt na.
Đôi lúm đồng tiền xưa xa
Vương đầy nắng mới
Thương bà sớm hôm cặm cụi
Hai tay khiêng rổ cùng bà.
Từ bấy đến giờ biết mấy tháng Ba
Nắng dệt ngổn ngang áo cơm đời cháu
Dường phố thênh thang chẳng tìm đâu bậu cửa
Nén hương trầm cháu thắp vạt cỏ xanh!
Chiều suối Ngọc
Dưới bóng Trường Sinh(*)
bản Mường e ấp
ta lang thang suối Ngọc (**) quên chiều
vô tư cá thần vũ điệu
bơi từ truyền thuyết trong veo
Nước trong
em tìm đồng điệu với hoa
hồn nhiên
cá vẽ vòng sóng bạc
sự thân thiện thoát thai từ truyền thuyết
đang hiện về tung tăng…
Em là ngọc, em là trăng
vừa nhú lên, từ suối biếc
không quen nói những lời da diết
vụng về… anh ngắm trăng!
(*) Núi Trường Sinh thuộc xã Cẩm Lương, Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá.
(**) Suối Ngọc còn gọi là suối Cá Thần.
THẢO LINH
Cánh rừng hoang sơ
Rừng xanh thẳm, nguyên sơ, trong trắng
Cây chen cây lá thắm vô tư
Bốn mùa xanh ngọt ngào, cay đắng
Tự thuở hồng hoang đã non tơ.
Ta yêu rừng từ khi còn nhỏ lắm
Say đắm rừng từ thuở vẫn ngu ngơ
Rừng dang tay vẫy đùa từng ngọn gió
Lạc cõi xanh ta quên cả lối về.
Muốn được như cánh rừng hoang sơ ấy
Giấc mơ xưa khao khát bao lần.
Tiếng chim hót khi ban mai thức dậy
Ngọn gió xanh thổi biếc cả chiều xuân.
Bao năm sau cánh rừng kia vẫn thế
Lá với cây, vời vợi đón gió trăng
Rừng vẫn xanh trước đại ngàn dâu bể
Vẫn hoang sơ, huyền bí vẻ phong trần.
Cánh rừng anh ngút ngàn chiều cổ tích
Cây lá xanh trước bão tố phong ba
Nơi thẳm sâu trong không gian tĩnh mịch
Mặc thời gian, rừng kia mãi không già.
Thu yêu
Thu nồng nàn còn quyến rũ không anh
Hanh hao nắng trong chiều vàng gió mới
Tình yêu nào mê say đều không tuổi
Đam mê nào chẳng có phút chơi vơi.
Yêu mùa thu vàng nắng của đất trời
Chút heo may, tóc rối, sợi buông lơi
Trôi thật nhẹ bên tai, vàng chiếc lá
Cánh hoa cúc cũng vàng mãi không thôi.
Thu héo buồn còn quyến rũ không anh
Nắng đã nhạt trong chiều buông gió thổi
Tình yêu còn đam mê khi mòn lối
Ánh mắt còn theo ai suốt cuộc đời?
Yêu mùa thu với mưa gió đất trời
Khi âm u bóng tối, chẳng sao rơi
Đêm thu buồn khi trăng thu không tới
Vẫn yêu thu cả khi vắng trong đời.
Hà Nội, thu 2011
letrungtiet | 16 December, 2011 13:31
HỘP THƯ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI”
HỘP THƯ SỐ 12
Trong thời gian vừa qua Ban Sơ khảo chúng tôi đã nhận được bài dự thi của các tác giả sau:
1) Lâm Xuân Vi – Ninh Bình – 5 bài
2) Lê Xuân Hiệp – Hà Nội – 3 bài (gửi lần 2)
3) Phạm Vân Anh – Hà Nội – 2 bài (gửi lần 2)
4) Nguyễn Phan Quế Mai – Hà Nội – 3 bài
5) Vũ Minh Tước – Nam Định – 1 Trường ca
6) Nguyễn Ngọc Hưng – Quảng Ngãi – 10 bài
7) Nguyễn Văn Minh - Hải Phòng – 10 bài
8) Lê Quang Trạng – An Giang – 5 bài
9) Mai Trung Nội – Nam Định – 9 bài
10) Công Phương Diệp – Hà Nội – 3 bài (gửi lần 3)
11) Phương Gia Phạm Bá Thanh – Bà Rịa Vũng Tàu – 9 bài (gửi lần 2)
12) Lã Thị Sáu – Hà Nội – 2 bài
13) Lã Trung Hậu – Hà Nam – 1 bài
14) Dương Tây Sơn – Nam Định – 1 bài
15) Lê Quang Châu – Đăk Lăk – 2 bài
16) Trần Vạn Giã – Khánh Hoà – 9 bài (quá quy định)
17) Trần Hữu Trí – Nam Định – 2 bài
18) Vương Khắc Côn – Hà Nội – 2 bài (gửi lần 3)
19) Phạm Như Đức – Hải Dương – 5 bài
20) Nguyễn Anh Thư – Hà Nội – 2 bài
21) Nguyễn Mạnh Khiêm – Bắc Giang – 3 bài
22) Vũ Huế – Đồng Nai – 4 bài
23) Nguyễn Tiến Bình – Hà Nội – 12 bài (quá quy định)
24) Nguyễn Khắc Kình – Hà Nội – 9 bài
25) Hoàng Thị Hiền – Cao Bằng – 1 bài
26) Ngô Nhật Thăng - Nam Định – 3 bài
27) Lương Thị Tiến Nguyện – Nam Định – 7 bài
28) Phạm Hương Thi – Hà Nam – 5 bài
29) Trần Quang Hiển – Ninh Bình – 5 bài (gửi lần 2)
30) Vũ Xuân Khải – Nam Định – 12 bài (quá quy định)
31) Phan Thành Minh – Đà Lạt – 2 bài
32) Nguyễn Đắc Lập - Hà Nội – 2 bài
33) Tô Quốc Thắng – Hà Nội – 3 bài
34) Lê Thị Tuyết Dân – Khánh Hoà – 8 bài
35) Chu Quang Minh – Hà Nội – 5 bài
36) Vương Văn Kiểm – Nam Định – 1 bài
37) Phạm Vũ Hinh – Nam Định – 1 bài
38) Nguyễn Hưng Hải – Phú Thọ – 7 bài
39) Nguyễn Thị Thương - Bắc Giang – 7 bài
40) Phan Minh Mẫn – Đà Nẵng – 6 bài
41) Đặng Thị Điểm – Hà Nội – 5 bài
42) Nguyễn Duy Hùng – Hà Nội – 1 Trường ca
43) Lương Văn Thú – Hà Nội – 1 bài
44) Điền Ngọc Phách – Phú Thọ – 13 bài (quá quy định)
45) Nguyễn Văn Tiêu – Nam Định – 6 bài
46) Nguyễn Văn Sách – Hà Nội – 1 bài
47) Đoàn Hồng Căn – Vĩnh Phúc – 10 bài
48) Lê Thiền Hạ – Hà Nội – 1 bài
49) Nguyễn Nguyên An – Huế – 10 bài
50) Phạm Vũ Văn – Nam Định – 9 bài
51) Lương Mẫu – Nghệ An – 9 bài
52) Hoàng Trọng Phê – Hà Nam – 1 bài (gửi lần 4)
53) Nguyễn Thị Hồng – Hà Nội - 3 bài
54) Lưu Trang – Hà Nội – 4 bài
55) Nguyễn Văn Quang – Làng Chùa Hà Nội – 2 bài
56) Ngô Thất – Làng Chùa Hà Nội – 7 bài
57) Nguyễn Thanh Quang – Làng Chùa Hà Nội – 2 bài
58) Nguyễn Gia Tự – Làng Chùa Hà Nội – 4 bài
Ban Sơ khảo chúng tôi chân thành cảm ơn và mong tiếp tục nhận được các bài thơ dự thi của các tác giả.
BSK
letrungtiet | 07 December, 2011 14:28
CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN
số ra ngày 9-12-2011
NGUYỄN HỒNG CÔNG
Giếng làng
(Trích)
Kính tặng làng Cao Lãm - Quê hương tôi
Làng tôi vùng châu thổ sông Hồng
Ruộng hai vụ chiêm khê mùa úng
Đồng gặt ướt thân lúa quây dàn hàng như nơm úp
Hạt thóc mặn mồ hôi tinh đất tình người
Xanh tre bóng toả xuống đời
Giếng làng lấp lánh một trời sao đêm
Hạc đình nghiêng bóng hoàng hôn
Cánh cò xao động một miền dân ca…
Quê nghèo
nhà tre vách đất
mỗi mùa bão giông
gió vặn tàu cau vắt nước chum sành
Mưa xối thủng mái gianh
chậu thau đồng
đổ nước trời qua bậu cửa
ướt đêm nhà giột ngủ ngồi
thân gầy sưởi ấm áo đơn
Gió rít từng cơn
đòn tay tre bỗng thành cây sáo…
Nét quê
Triền dâu xanh sông Đáy
hoạ hình uốn lượn thân đê
Con đê mùa chiêm óng sợi rơm
tháng Mười thơm hương nếp mới
đệm cỏ mùa trăng
thanh bình tiếng sáo diều ngân
Đê nối làng, nối thành đôi lứa
đêm hội dài hơn…
Quê hương
hoàng hôn
những cánh chim cò lửa
cháy rập rờn trên thảm lúa xanh
rêu thời gian trĩu mái chùa cong
thinh không tiếng chuông ngân…
người xa quê canh cánh nỗi lòng
Cây đa - Sân đình - Giếng nước
Giếng là Gương trời - Mắt đất
Nguồn chảy của mạch làng bất tận
thẩm lọc tầng tầng văn hoá
tuổi giếng trăm năm…
Chốn quê
Nơi ta lớn chẳng bao giờ là đất tạm
mãi chữ tình buông neo
Biển còn phụ thuộc vơi đầy
Nước giếng làng không cạn
thương đất khô ruộng hạn
bà quảy gánh nuôi đồng
nồi đất nước trong theo dáng lưng còng
cổng làng lệch bước chân
sóng sánh vơi dần
sức mòn theo năm tháng…
Ngày em từ làng bên về quê chồng
buổi đầu gánh nước
mẹ dặn nàng dâu
bậc giếng làng rêu trơn
chiếc đòn gánh tre mòn vai bà, vai mẹ…
Nơi giếng làng
có phút giây con tim thao thức
câu thơ anh bật lên
xốn xang… một lúm đồng tiền
khuôn mặt in hình bóng nước…
Chị cầm bút
Con tim thắp lửa
ôm mảnh hồn
thả cánh Ti-gôn tím gạch giếng làng…
Mỗi lần về quê
thói quen đầu tiên vục tay trong nước
nguồn chắt lọc qua đất
từng vi ti huyết mạch… chảy râm ran
Giếng làng
chứng nhân lịch sử
buồn vui năm tháng quê hương
người đi xa có một miền để nhớ
…
Lớp chúng tôi qua thời chân đất
Tóc rễ tre
tan học quần nhau sân bóng làng Chùa
phơi trần lặn ngụp
Bên kia sông Đáy
bài học địa lý vòng cung đá vôi xanh
Thời gian nhuộm bông lau trắng
Mái đầu sợi tóc thưa hơn
Nước chảy xói mòn bờ đất
Xục bàn tay vào cát bồi lạnh mát
bãi ngô lên xanh, cánh đồng mía mật
cây gạo đường thôn thắp lửa đợi chờ
…
Ta về quê
Chọn ngày không thể chọn nắng mưa
nén tâm nhang kính dâng cha mẹ
Đồng gió lạnh hương thơm cháy dở
ngửa mặt mình là đáy hạt mưa rơi
Nhoà đất nâu như thấy bóng cha, dáng mẹ vai áo bạc màu
tưởng bàn tay dịu dàng lau đầu con khô tóc ướt
ta trôi dần vào cơn mê
nghe tiếng gọi vọng trên cánh đồng mùa màng, vọng về làng rồi tan trong gió
bàn chân lại bì bõm lội bùn
sao mỗi bước cứ lùi
lùi dần
về tuổi thơ
thấy mình vùng vẫy trong mưa
đuổi bắt những bong bóng nước?
Con đường làng
Dấu gạch nối đời người và lịch sử
Chùa mái vút cong
đình hội tụ
nước giếng trong
Phận người làng ta
được - tắm - hai - lần
nguồn nước từ thăm thẳm tận cùng
ta đi nhặt những câu thơ bềnh bồng
thấy lấp lánh tuổi lớp ba, lớp bốn…
tiếng ai
thôn một giếng - tiếng một làng
lật giở mãi đất ơi!...
Cao Lãm, 8-2011
LÂM XUÂN VI
Viết ở bảo tàng Đất Tổ
Những di vật nơi Bảo tàng Đất Tổ
Đưa ta về lại thuở hồng hoang
Chung sắc tố trong tế bào Âu Lạc
Trăm trứng trăm con xuống biển lên ngàn
Quanh câu chuyện chiếc thạp đồng Đào Thịnh
Lẽ tử sinh thức tỉnh muôn đời
Cái chết đã lùi vào bóng tối
Lại tự tình hoan lạc sinh sôi
Ơ tạo hoá đặt bày hàm súc
Cho nhân gian sức sống luân hồi
Nét mờ tỏ trụi trần hôn phối
Vòng sinh thành rạo rực đẩy đưa nôi
Tình trầm tích trong địa tầng văn hoá
Mấy ngàn năm bóng ngả non ngàn
Sương khói thả Hi Cương bảng lảng
Thêm ngàn lần yêu non nước Văn Lang.
Bên tượng đài
Trần Hưng Đạo
Ngược gần ba trăm mét cao
Khói sương dẫn vào cõi lặng
Giữa trời Yên Phụ bâng khuâng*
Mây quây - thời gian vỗ sóng
Nước non từ đây trải rộng
Quốc công tiết chế dõi tìm
Sau bao loạn ly binh biến
Đất trời trăm họ bình yên
Người đứng giữa trời uy nghiêm
Nung nấu ánh nhìn rực lửa
Ngẫm Hịch Tướng sĩ, binh thư
Kế sách vững bền muôn thuở
Chừng phía Bạch Đằng nổi gió
Chiến thuyền, vó ngựa gầm reo
Bãi cọc dòng sông linh diệu
Phù sa - máu thắm thuỷ triều
Đâu hồn Giã Tượng, Yết Kiêu…
Sóng reo Bạch Đằng Giang Phú?
Và đâu ý chí Diên Hồng?
Tượng đài - non sông bất tử
Lớp lớp tìm về Yên Phụ
Muôn phương quần tụ quanh Người
Người thành khí thiêng sông núi
Trong lòng trăm họ yên vui.
* Đồi Yên Phụ, ở tỉnh Hải Dương, nơi dựng tượng đài Trần Hưng Đạo.
NGUYỄN HẢI TRIỀU
Lục bát gởi sông
Bữa về chỉ bến và tôi
Ngẩn ngơ một cánh buồm trôi giữa dòng
Lưng chừng nắng với mênh mông
Lặng im sông chảy mà không nói gì…
Hình như lau cũng gầy đi
Lơ thơ tóc muối người đi sông buồn
Tháng năm chớp biển mưa nguồn
Mây còn trắng để trời buông nắng ngàn?
Vẫy bàn tay gió lang thang
Níu triền sông gọi thu vàng vỏ xưa
Ngày trăng giặt áo phơi mùa
Đục trong trôi hết được thua sự đời!
Sông là sông của đời thôi
Non mòn biển cạn để rồi… bóng tăm
Chỉ là sóng phía trăm năm
Dấu phù du chảy xiết dòng nước xuôi
Bữa về tôi gặp lại tôi
Trắng màu ký ức lở bồi… với sông!
NGUYỄN HOÀNG SA
Ru cổ tích
Vườn xưa giấc ngủ chập chờn
Chợt con dế gọi run chòm cỏ non
Thời gian
xàn xạt hao mòn
Ngược xuôi mỏi bước
chân con lại về
Biết mình có lỗi với quê
Nợ lời ru
thuở nôi tre, nhỡ nhàng
Biết không trả nổi ơn làng
Đành như chiếc lá lang thang nhớ mùa
Đồi chiều
tím biếc hoa mua
Tìm mình
lạc dấu miền xưa dại khờ
Thương làng tiếc níu bơ vơ
Ôm bờ cổ tích ầu ơ ru mình…
LÊ HOÀNG TRÚC
(Việt kiều tại Hawaii)
Hoa
Hoa bay bay
Sương chiều xuống
Người đi xa
Tình ướt lạnh
Hoa lại nở
Người vẫn xa
Xuân đi vội
Còn mình ta
Hao chợt cười
Người về đến
Hoa rụng xuống
Người ôm hoa…
letrungtiet | 24 November, 2011 13:33
CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN
25 - 11 - 2011
ĐẶNG CƯƠNG LĂNG
Hồ Đại Lải
Giọt nắng cuối thu rắc vàng hoa cải
Con đường đi cõng cả bốn mùa
Tên núi, tên làng, tên em chưa rõ
Mà Đại Lải trong xanh huyền thoại vỗ về
Như đại dương bát ngát
Ôm chầm đảo vàng, đảo Ngọc.
Còn xuồng cắt sóng lướt như tên
Chòng chành lắc
Nghiêng anh
Nghiêng em
Nghiêng cả trời mây
Giữa mênh mông sóng nước.
Đứng giữa trời đất
Giữa non xanh
Giữa trong veo
Thấy văn vắt hồn người
Soi tới thẳm sâu.
Và mai đây
Đại Lải em như biển cả
Đừng bao giờ nhỏ lại thành hồ…
Cứ đợi cứ chờ
Em hẹn nhưng em chẳng đến
Anh cứ đợi cứ chờ
Lún ngập miền thương.
Anh mơ tưởng khoảng trời bình yên
Tươi sáng ngày mai em
Bầu trời xanh toả ánh nắng vàng
Trăng tròn ngợp vườn xuân hương sắc.
Anh cứ đợi cứ chờ
Bạc trắng đời sông đò cập bến
Mà thấy đâu bóng dáng
Lòng sông quặn đau…
Anh cứ đợi cứ chờ
Để suốt đời cháy bỏng khát vọng yêu
Nuôi niềm tin vào con đường ảo ảnh.
PHAN MINH MẪN
Cha
Con về chốn cũ tìm cha
Đất mông mênh đất, đường xa xăm đường
Cồn xưa giờ đã thành nương
Cha tôi lạc dấu khói hương bao mùa!
Ngõ đời con vụng đường đua
Về nghe lỗi một lời thưa với người
Con thêm lần nữa mồ côi
Chạnh nghe từ đất vọng lời tình thâm
Ước gì nhỏ lại bước chân
Chưa ôm trăng muộn, chưa cầm chiều rơi
Chưa làm cánh vạc bên trời
Chưa ngơ ngác trước, chưa bùi ngùi sau!
Con về sương lấm mái đầu
Nợ lòng chưa trả nỗi đau mỏi mòn
Phải chi cha cứ roi đòn
Như hồi nhỏ dại… có còn hơn không!
Tiếng chim trong vườn cũ
Tiếng chim nào hót sau vòm lá
Phải tiếng chim xưa thuở thiếu thời?
Xin hát cùng chim lời bé nhỏ
Lời thương lời nhớ với chim ơi!
Ra đi từ thuở chân bùn đất
Tay với chưa qua khỏi cánh chuồn
Mùi rạ mùi rơm còn dính áo
Ngõ đời nào biết dại cùng khôn.
Bao năm về lại thăm vườn cũ
Thèm thả lưng nằm đám cỏ không
Thèm hớp từ sông vài ngụm nước
Thèm nghe dế gọi giữa trưa vàng.
Quê hương chừ vắng những cánh diều
Bao cánh chim chuyền cũng vắng reo
Thôn nữ không còn ra gánh nước
Sông buồn, giếng cạn phủ mờ rêu.
Vắng khói lam chiều trên mái lá
Ngọn đèn mờ tỏ liếp phên thưa
Cây đa bến nước con đò nhỏ
Tiếng hát ru hời… mẹ thuở xưa.
Vắng những con đường quanh lối nhỏ
Có đàn đom đóm sáng đêm hè
Cành sen cổ tích người quên áo
Quê cũ đâu rồi những bóng tre.
Ta cũng cũ rồi chim nhỏ ơi!
Quê hương đành nợ tuổi xa Người
Ngày mai chim bỏ xa vườn lá
Ta hát cùng ai giữa biển đời.
NGUYỄN NGỌC TÂN
Phương Nam mùa gió Bấc
Mùa chạm lạnh khói.cong hanh vành nón
Đường nhấp nhổm sắc hoa khoe mùa cưới
Dòng sông ủ nước mùa đông len lối xóm hiền lành...
Cây bông súng giấu xuân phập phồng mặt nước
Gửi lé đé triều cường nhóng nhánh lá non
Ngọn dừa nước uốn mình miên man chao lắc
Phương Nam! Phương Nam! Mùa gió Bấc
Người lướt qua nhau tráng cái nhớ bánh phồng
Con nước mùa này con nước ngập ngừng trong
Có thể nào xâu được lối nhỏ hun hút xanh?
Con đường dẫn ra bờ vuông tháng này tròn lối cỏ
Gỡ chút tràm xanh quẳng theo chấp chới cánh cò
Gió Đông về ta tìm gì trong tay áo?
Buổi sáng hà hơi cất giấu hơi ấm bao ngày!
Em ôm áo gió. Đông thèm lạnh
Ở ngoài kia con nước lớn đang lên...
Đừng lầm hoa cỏ
với phù vân
Anh cứ ngỡ mảnh chiều khép lại.
Phía sau anh ngược sáng lửng chiều
Dòng phiền muộn trôi mùa rong ruổi
Em chợt hiền và em chợt vô tâm...
Anh không nói dòng thời gian le lói
Buổi chiều nay vàng sậm nốt son mờ
Anh đợi mãi... mái tóc huyền hong sắc
Khúc tàn lời em hát cố đô khuya...
Thà không đến
Không đưa tay với lấy
Đôi chân trần đâu ngỡ bước chân rơi
Em học biếc nụ hoa hồng gai nhọn
Đừng... hỡi em! Nụ đã đoá hoa rồi!
Ta không phải kẻ ru mình quên bản ngã
Vén trời cao ta vín cánh tay hồng
Em đừng cố tung theo mùa bỡn cợt
Gió không màu ta vẫn thấy hư không.
Em đừng tưởng nét tài hoa rên rỉ,
Hét oang oang trong mê đắm điên cuồng
Giấu chút xác sau những lần hoan hỉ
Thổi tro tàn bay loạn ngỡ yêu thương...
Ta vẫn sống như những gì em thấy
Tưởng rất xa lại hoá thật gần
Có thể rát những cơn đau mộng mị
Cũng đừng lầm hoa cỏ với phù vân...
NGUYỄN THẾ KIÊN
Chuyện quê
Người quê gieo những âm thầm
Để cho mưa nắng bật mầm mà xanh
Phố trườn thêm một đoạn lành
Chạm quê nhìn cái long lanh thở dài.
Cúi đầu là gặp đất đai
Thời nào chả có chông gai thế này
Nước non còn lắm vơi đầy
Gia tài trắng nổi đắng cay trên đầu
Nghe từ gió cả sông sâu
Dạy chung sống với lo âu vạn đời
Mẹ quê thấp thỏm đứng ngồi
Chắp tay cầu chiến tranh thôi đừng về.
Con từ giã tuổi thơ đi
Giảng đường sau phía mùa thi kia rồi
Lặng im cha buộc tiếng cười
Tấm huân chương đỏ sáng nơi ngọn nguồn
Lúa dậy thì, mẹ bán non
Mùa vui có trọn tuổi con đong đầy?
Bà ngồi bấm đốt ngón tay
Nụ cười rân rấn như ngày tiễn ông...
TRIỀU VÂN
Tìm lại tuổi thơ
Ngồi bậc đá khoả chân
Dòng Hoa Lái hiền hoà
Nhớ ngày theo mẹ đi gánh nước
Gánh nước đầy sóng sánh đời con
Quê bây giờ không có khói lam
Còn vạt nắng nghiêng soi hàng cau chiều xuống
Tiếng tu hú báo thức mùa vải chín
Kẽo kẹt vó bè lừa cá cửa sông
Tuổi thơ gieo ở cánh đồng
Giấc mơ chín vàng mùa gặt
Miệng ốc bươu, càng cua, đuôi săn sắt
Cứ lững lờ cựa quậy ký ức trôi
Tha phương thế chấp cuộc đời
Về làng đổi lấy một thời… trẻ thơ.
NGUYỄN THỊ BỒNG
Biển của tôi
Ai bảo rằng: biển hát, biển ru, biển lặng, biển yên vui hiền lành lóng lánh hoàng hôn, hay êm ái bình minh ngày mới
Tôi sinh ra, lớn lên, lam lũ sớm khuya cùng mẹ cùng cha nơi nước biển mặn mòi, nơi ầm ào sóng dội
Chỉ thấy nhọc nhằn đậm đầy trên đòn gánh của mẹ và lưng áo của cha
Nay được học hành được đến những miền xa.
Vẫn trước mắt là biển thét, biển gào khi bão về thuyền cha chưa cập bến
Mãi với tôi, biển dữ dằn bão dồn, sóng lộn; gói lo âu trong mắt mẹ mỗi chiều
Dù lành ít, dữ nhiều tôi vẫn yêu biển lắm biển ơi, bởi thiếu biển đời như canh thiếu muối
Và bây giờ nếu ai muốn tôi đổi vùng nước mặn chát lòng này lấy nơi đô hội, không dối lòng, tôi sẽ nói: Biển của mình, mình không thể chia xa!
PHAN HỒNG ÁNH
Mùa đông
Trời đã sang đông
Cây gầy gò hơn cây mùa xuân
Ta to hơn ta mùa hạ
Cả ta và cây đều run
Bầy chim vắng hơn
Nắng co ro góc vườn
Bông hoa loắt choắt
Cái gầu lưỡi vục nước
Chỉ có lửa trong bếp
Là vẫn như ngày thường
Em lấy chân gạt sương
Lũ cỏ nghển cao nhẹ nhõm
Hình như em đang ôm mùa xuân.
NGUYỄN HOÀI DIỆU THƯƠNG
Tình ca Nam Cát Tiên
Chàng là con nai lạc của em sừng săn chân cứng
Từ Nam Cát Tiên bước ra hay từ đại ngàn về
Mắt ngơ ngác sao chiều, anh ánh dòng Ô Ranh chảy
Nhấp nhổm ức ngài như bóng núi Đắc Kia.
Em sẽ dìu chàng quay về bản nhỏ
Lóc cóc móng gõ, lích tích hoa rơi
Nơi có lửa nhen thơm lừng bắp nướng
Tìm chờ nhau chi chín núi mười đồi.
Bảy bậc lên nương có mây che bóng
Sữa đá căng đầy, cao cát* thèm kêu
Em nghe vọng ngàn, em nghe nước chảy
Em nghe mùi anh sau những phiến chiều.
Một khoanh suối trong cùng anh gội tắm
Anh che giùm em chiếc lá lu là**
Ngực em trắng thơm, mình em trắng lạnh
Váy em phơi còn trên mấu rai-da* * *.
Ta cùng nhau thương lẻ tư mùa rẫy
Cây một mình cao, hai đứa trú nhờ
Sáu cột nhà sàn, ba hom nứa chụm
Làng Mạ ấm rồi ánh lửa rừng xưa.
Ngày mai của anh, ngày mai của bản
Cho em vui sống, cho em được yêu
Thốt một lời thương cho rừng ấm lại
Ngày mai của em như thế không nhiều
11.10.2010
* Một loài chim lớn ở rừng Nam Cát Tiên.
** Lá chuối rừng.
*** Rễ cây gáo vàng.
letrungtiet | 10 November, 2011 02:14
CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN
Ngày 11-11-2011
NGUYỄN MINH KHIÊM
Làng Thọ Lộc
(Trích trường ca)
2. Lời cỏ
…
Tôi sinh từ giọt máu của làng
Nghìn năm không cắt rốn
Những móng chân hình lưỡi cuốc quằn
Bấm lõm cả ca dao tục ngữ
Tôi lớn lên mang nước da màu đất
Cây đa cây đề giữ gương mặt mùa đông
Sự khắc nghiệt, sần sùi vạm vỡ
Chỗ chúng tôi tránh gió lúc chăn bò
Cất trong ký ức làm nơi tránh bão
Bao ngọn lửa bừng bừng trong da thịt
Mắm nuối dưa cà tẩm vào giọng nói
Cỏ là thứ đầu tiên tôi cầm nắm trong tay
Cỏ là thứ hương đầu tiên tôi nhập vào hơi thở
Lần theo cuống nhau tôi trở lại ngọn nguồn
Tôi đã nhận ra chỗ đầu tiên ông cha nhóm lửa
Những khuôn mặt cháy lên thành diện mạo làng
Cánh đồng bắt đầu từ cỏ
Mái nhà lợp cỏ
Căn hầm lợp cỏ
Luỹ quanh lán học lợp cỏ
Giữ mái đê bằng cỏ
Che mắt kẻ thù bằng cỏ
Tuổi thơ lăn trong cỏ
Tiếng cười vang trên cỏ
Nước mắt thấm vào cỏ
Giấc mơ xanh màu cỏ
Cỏ chỉ ra huyệt đất
Cỏ chỉ nơi đất đai màu mỡ
Cỏ chỉ nơi úng ngập cỗi cằn
Cỏ chỉ nơi đất sinh đất phát
Cỏ chỉ nơi cho làng đào ao, đào giếng
Cỏ mách từng cây thuốc
Cỏ hát ru yên nghỉ cuối đời
Qua hàng nghìn năm cỏ biếc đến bây giờ
Qua nghìn năm cỏ không rời mạch đất
Soi câu thơ vào lá cỏ làng
Tôi thấy mình từ hồng hoang cổ tích
Nhặt bình minh cấy vào sợi tóc
Nhặt hoàng hôn xơ xác mái đầu
Con chuồn chuồn nung đỏ bờ ao
In xuống vệt lưng làng cầu vồng mống cụt
In vào quầng mắt làng rủi may, được mất
Thành hạt gạo làm bánh chưng, bánh dày tế Tổ
Thành rượu ngon, tương ngọt cúng ông bà
Người làng tôi
Không ai nghĩ mình là gốc của dân ca
Không ai nghĩ mình sáng tạo nên tục ngữ
Thương cháu con nên nghĩ ra câu hát
Không muốn mồ hôi xương máu mất đi nên dạy lại đời sau
…
Nâng lá cỏ lên áp dưới ngực mình
Lá cỏ sắc như lưỡi liềm cứa ngực
Vỡ oà ra trong những ngày căng chật
Trong hỗn mang bao số phận con người
Giọt mồ hôi đầu tiên rơi xuống hoá núi Lời
Giọt mồ hôi thứ hai rơi xuống thành núi Chõi
Giọt thứ ba rơi xuống thành núi Hà, núi Mố
Giọt thứ tư rơi xuống hoá núi Trùng
Giọt thứ năm rơi xuống hoá những cánh đồng
Chỗ trũng nhất là khua Đu, khua Mẻo
Chỗ sình lầy là khua Nẩn, Hang Ma
Chỗ thóp thở nhiều bọt khí sinh ra
Là Cầu Trùng, khua Lời, khua Giáng
...
Trái tim làng vẫn đập về sông
Nơi đầu tiên con chuồn chuồn đẻ trứng
Nơi cây cột nhà chọn làm chỗ đứng
Cổng làng bắt đầu từ đó mở ra
Thơ chạm cổng làng, chạm ngọn sóng biển xa
Chạm ghềnh thác khe sâu vực thẳm
Nắng gió tẩm da làng chai xạm
Tiếng hoầy dô nghiêng sử sách một thời
Đất kết thành từ nước mắt mồ hôi
Rễ cỏ rễ cây mang hình tia máu
Nên ông bà dạy con dạy cháu
Khắc tuỷ ghi xương tấc đất tấc vàng
Hồn vía ai cũng chuốt thấm vào làng
Nên đi xa chỉ một ngày một buổi
Cái nhớ cái mong cồn cào không chịu nổi
Tìm đủ phương đủ cách lồng về
Chỉ những lời răng rứa mô tê
Mà mọi lẽ thấm đến gan đến ruột
Bát nước chè xanh, củ khoai lang luộc
Tóc bạc phơ trăm tuổi lúc nào
Cánh diều bay tít tận trời cao
Trăm hướng gió cũng neo về một cọc
Tôi giật mình suốt một đời ăn học
Đến bây giờ chưa hiểu nổi chữ Quê.
Bỗng thấy mình như sóng vượt qua đê
Đánh mất hình hài nơi phố đông người chật
Ngày và đêm không biết đâu là thật
Nghe con gà cất tiếng gáy vu vơ
Quờ tay vào lá cỏ gặp cơn mơ
Gặp giọt sương lung linh huyền thoại
Tôi sững sờ cái một đời để lại
Đất hồn làng cháy thành chữ, thành câu
Từ đời xưa kể đến đời sau
Từ cụ kị truyền lại đời cụ kị
Mỗi giọt máu vọng lời bao thế kỷ
Vụn đất làng hiển hiện cả nghìn năm...
LÊ HỒNG HẢI
Tìm em
Lý mười thương
Anh về Cửu Long mùa vàng bông điên điển
Mái chèo khua nỗi nhớ chạm sông Tiền...
Câu vọng cổ chênh chao sóng nước
Tím lục bình, tím khoảng trời em...
Gió loang ngân pha nỗi niềm châu thổ
Bầy bông lau đuổi nắng khát sang mùa
Đời thương hồ trôi trong tĩnh mịch
Mắt má màu viễn vọng xăm xưa...
Anh đi tìm em, tìm điệu Lý mười thương
Thấy tía buồn: "Cá ba-sa vụ này rớt giá"
Cơm, áo, gạo, tiền cay đắng lạ
Em ra thị thành rao bán Lý mười thương
Con chim non lạc giữa phố, giữa phường
Đơn côi câu Dạ cổ...
Em đi về đâu biển đời bỡ ngỡ
Non nớt phù sa, chúm chím tơ hồng
Em biết về đâu giữ hương tràm, hương đước
Kí gửi khoảng trời đặt cược ước mong
Sông Tiền, sông Hậu mùa mùa sóng
Lay lắt nhị hồ anh hát "Lá Diêu Bông"…
QUỲNH HOA
Đầu tiên
Ai đã đặt nụ hôn đầu tiên lên môi thắm nồng nàn
Ai đã lật đường cày đầu tiên trồng gieo sự sống
Câu hát đầu tiên ai người mơ mộng
Ai biết mở lòng cây sáo trúc để ngân nga
Ngọn lửa hồng ai tìm được cho ta
Và cái dáng con thuyền say lướt sóng
Giọt nước mắt đầu tiên ai khóc
Khóc vì buồn hay khóc bởi lòng vui
Mái nhà nghiêng che mưa nắng con người
Ai tạo dựng lần đầu dáng ngôi nhà ta ở
Cái đáng thương thương như lòng rộng mở
Lại như vòng tay ấp ủ những vuông tròn…
Ai tìm ra men rượu say hồn
Ai lần đầu biệt ly, ai lần đầu rót rượu…
Nhà sáng tác Đà Lạt, 10-2010
DƯƠNG HOÀNG HỮU
Góc trời và gió
Tôi đứng ở góc trời đợi gió
Con gió lãng du mang hương vị quê nhà
Mùi khói những cánh đồng rơm rạ cháy
Mùi mồ hôi lưng áo, mùi phù sa
Ngọn gió nào cũng là con ruột của đất mẹ quê ta
Quê nghèo quá lang thang đây đó
Cứ mỗi ngày đứng chờ từng ngọn gió
Mong nhận ra những gương mặt thân thương
Tôi không hay góc trời thường nhuộm ướt sương
Những ngọn gió đi qua không hề hẹn trước
Bởi ngọn gió vô hình hay trái tim vô tình nên không bắt gặp
Dồn nén đến mùa xô dậy bão giông.
NGUYỄN TẤN ON
Trên cánh đồng nho
Trên da thịt màu nho chín
Những đường cong đồi cát cuống cuồng trăng
Hừng hực đêm, ngủ bên đoá xương rồng
Một giọt nước chưa chạm môi đã cạn
Tháp Chàm nghiêng xuống
Cánh đồng nho Phan Rang
Bởi tiếng hát
Không là Chiêm Nữ
Bên giàn thiêu tế lễ thần linh
Không chay đàn thánh thót Baranưng
Cầu xin giọt sương làm mềm thân lá
Nỗi mong chờ rớt thành tiếng cô đơn
Để gọi mùa phồn thịnh trên gai xương rồng tua tủa
Một màu trăng ủ kín mấy Triều xưa
Và khấn nguyện những cơn mưa bội thực
Nuốt nước bọt trong khát khô cùng cực
Người nông dân hát cho trái nho nghe
Đầy quyến rũ với trái tim mộc mạc
Giữa nắng và nắng
Giữa gió và gió
Giừa cát và cát
Giữa đồi trọc và trọc, đồi hoang
Giữa người và người, cưu mang
Giữa khắc nghiệt từ thiên nhiên địa lý
Điều diệu kỳ trái mọng chín thơm hương
Tươm từng giọt mồ hôi từ gốc rễ
Từ người dân quen mưa nguồn chớp bể
Tiếng hát mềm lòng, đất cát Phan Rang.
TRẦN SÁU
Ông tôi
Ông ôm hòm sách ngậm ngùi
Mốc meo, ẩm ướt, rã rời từng trang
Rồi đem mủng, mẹt, dần, sàng
Sách xưa ông lật từng hàng ra phơi!...
letrungtiet | 25 October, 2011 15:22
CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN
NGUYỄN HOÀI NHƠN
Làng núi
Kính tặng làng Cao Mại thương yêu của tôi
Lên chót đỉnh Lâm Lang sợ gió cuốn xô
Ngôi làng nhỏ của tôi khuất mơ đầu nguồn thác
Những mắt núi thiền ngư như mắt Phật
Ngó xuống dương gian cúi tạ mạch đất cằn.
Một ngôi làng trầm tích gió và trăng
Ngỡ chiếc xuồng con neo trong sương bạc
Bóng mẹ như cây, bóng cha như núi khắc
Thành nét cổ làng xưa đã mấy trăm đời?
Giữa thung lũng buồn nghe gió hụt hơi
Thu chửa kịp đi, heo may luồn tê ngực
Em gái ơi, em gái miền sơn cước
Hai mươi năm gió mưa, em có nhận ra tôi?
Vẫn đôi mắt ấy ngày xưa nâu tròn như hạt dẻ
Có ai mang cầm theo suốt cuộc chiến tranh
Những người lính của làng ra đi không quay trở lại
Em hoá đá chờ ai khi tóc chẳng còn xanh.
Ngôi làng nhỏ của tôi ơi! Xin hãy cứ bình yên như chưa hề trận mạc
Mà sao mỗi nóc nhà nước mắt chảy vòng quanh
Như long mạch nối hồn quê, hồn nước
Em là của đất đai, của đau đớn sinh thành!
Mùa hương dẻ thơm vào đâu cho bớt nhớ
Tôi khắc khoải mang cùng ký ức tháng ngày xa
Sẽ có lúc quay trở đầu về núi
Với cái bóng đen gầy làng vẫn nhận ra ta.
Cổ tích mùa hoa dẻ
Hai cánh núi trắng bạt ngàn hoa dẻ
Hương thơm đến ngất ngây, hương thơm quá nồng nàn
Cả thung lũng đắm chìm trong ảo giác
Đắm chìm trong âm hưởng cánh ong hoang.
Hình như đã thu về nơi đầu núi
Lèn bọc sương hay đá phả hơi sương
Heo may thả hồn nhiên mùa vắng nắng
Hoa dẻ im rơi buôn buốt mấy dốc đường.
Đêm than lửa, dẻ nâu vàng bóng lửa
Bao ngọt bùi thơm thảo thế làng ơi
Tôi nếm trải mấy buồn vui đắng đót
Mà sao chưa nói hết thành lời?
Ba hạt dẻ nằm đâu kia trong góc túi ba gang thần thoại
- Vừng ơi mở ra! …Lách tách vỏ rồi
Hình như có, hình như không Lọ Lem nào đấy cả
Em chính là chuyện cổ tích làng tôi.
Phập phồng bong bóng
Bong bóng không mưa chợt trưa bong bóng
Ảo ảnh mây đen, ảo ảnh cuộc đời
Tôi ngôn ngốt giữa phập phồng bong bóng
Bong bóng không mưa, hạt nước vỡ làm đôi.
Mẹ theo bão đi giữa chập chờn rốn lũ
Nước mắt mù u có chảy nổi ra ngoài
Chút thềm nắng tí teo nheo mắt đợi
Con tật nguyền từ lúc mới phôi thai.
Bong bóng không mưa đâu còn bong bóng
Kí ức cả thôi sao chẳng thấy hiện về
Con sống giữa thị thành cứ như thằng trẻ lạc
Thèm chút gì như thể nhà, quê…
Bong bóng không mưa, nhập nhoà bong bóng
Nào có còn đâu cổ tích nắng thềm xưa
Con thấy mẹ hiện về trong giấc mơ lạ
Bong bóng nguyên còn, ơi ong bóng mưa.
PHẠM MINH DŨNG
Ở nhà Mai An Tiêm
Trải lá chiếu trên con đê mới
Mai An Tiêm rót chén rượu mời
Sang sảng tiếng cười
Cao hơn tiếng biển
Dãy đảo đá đẹp từng trang cổ tích
Sừng sững sau lưng
Nàng Ba từ đồng cói đi lên
Áo đẫm phù sa, sắc đất
Nàng tươi như cánh đồng trước mặt
Tôi yên lòng nâng chén rượu trên tay
Quả dưa hấu lăn qua tháng ngày
Lăn vào tay người gieo hạt
Con chim lành bay ra từ truyền thuyết
Đậu xuống tay tôi
Lưng An Tiêm bóng nhẫy mồ hôi
Gió và gió, gió không lau kịp
Nàng Ba ngước nhìn chồng âu yếm
Tiếng hát nàng đẩy tiếng biển lùi xa
Đào ao, vượt thổ, dựng nhà
Vài ba năm một lần thay chỗ ở
Đời vợ chồng An Tiêm là thế
Cói ngút ngàn xanh tận chân mây…
Gia phả họ Mai mấy ngàn năm
Tôi lần giở
Gặp những con đê mới
Và những tên làng, tên đất sinh sôi!
Ký ức đình làng
Thuở tôi lổm ngổm tập bò
Sân đình sải bước mà đo rộng dài
Bạn bè lớp một, lớp hai
Sân đình là xới đọ tài thấp cao.
Đưa tôi đến với trăng sao
Dẫn tôi đến với khát khao xa gần
Sân đình tôi đã bao lần
Đếm từng viên gạch vết chân mài mòn.
Tôi đi gìn giữ nước non
Khi về đình đã không còn đình ơi
Đứng trên nền cũ hỏi trời
Thành hoàng hồn vía dạt trôi phương nào?
Đình đi vào cõi chiêm bao
Nghĩa tình làng xóm ồn ào bán mua
Ai xui ai cứ lọc lừa
Tranh nhau thước đất kiện thưa họ hàng.
Bơi trong những trái cùng ngang
Tôi càng thấy tiếc đình làng quá thôi
Ước gần, mơ đến xa xôi
Một ngày nào đó làng tôi dựng đình.
Cho em hoá ngọn trúc xinh
Và anh đếm ngói thương mình thuỷ chung.
ĐINH HỮU DUNG
Hoa súng
Hoa súng của quê tôi
Nở trên trang báo mới*
Cám ơn anh mang tới
Một niềm vui bất ngờ!
Tươi tắn những cánh thơ
Lung linh trên mặt nước
Mang khát khao mơ ước
Của ông cha bao đời.
Bập bềnh lá xanh tươi
Bừng đuốc hoa cháy đỏ
Lặn sợi dây bấc nhỏ
Nối nguồn sâu bùn nồng…
Rưng rưng sáng giọt thương
Một miền quê chiêm trũng
Những kiếp người lụt úng
Ngâm da rồi ngâm xương.
* Ảnh “Hoa súng” của Lại Diễn Đàm đăng trên Báo Nhân dân.
Nếu khi ta đang ở
Nếu khi ta đang ở
Đất đã hoá tâm hồn*
Thì bạn ơi như vậy
Biết bao lần yêu hơn!
* Chữ trong thơ Chế Lan Viên.
NGUYỄN TIẾN MINH
Mẹ
Quê nghèo run rẩy gió hanh
Thân cò lặn lội chòng chành nắng mưa
Đêm mòn rét quất, sương cưa
Ngày vênh bóng chợ sớm trưa nhọc lòng
Rơi hoài giọt lệ long đong
Tái tê - vạt áo nâu sòng tái tê
Bóng gầy sấp ngửa cùng quê
Bếp se ngọn khói, đời se lưng còng
Dấn thân ở phía bão giông
Mẹ nhường con phía mênh mông chân trời.
Ơi người con gái sông quê
Tóc dài buông mát dòng sông
Mắt đong lúng liếng, lời đong ngọt ngào
Môi cười cho lúa xôn xao
Tay cười cho bếp thì thào lửa nhen
Câu hò biết gọi trăng lên
Vai tròn gánh nước lướt mềm dốc đê.
Ơi người con gái sông quê
Làm ai ngày ấy bến mê bồng bềnh
Chân trời nắng tím chiều vênh
Người con gái ấy lênh đênh đâu rồi?
Để sông La mãi bồi hồi
Để bao kỷ niệm đứng ngồi chẳng yên.
PHẠM ĐỒNG TÌNH
Về quê nội
Em có về quê nội cùng anh
Làng trải dài ven đường quốc lộ
Nơi ghi dấu đời anh một thuở
Những tháng ngày đói, rét, đạn bom.
Em cứ về quê nội một hôm
Nước trắng đồng nay đâu còn nữa
Ruộng liền ruộng, dồn vùng, đổi thửa
Thóc trong nhà dư dật quanh năm.
Em cứ về quê nội đi em
Mái tranh xưa đi vào dĩ vãng
Ánh sáng điện thâu đêm toả sáng
Nhạc rộn ràng vang vọng trong đêm.
Khoảng không
Lập loè đom đóm bay ra
Giật mình tôi biết tháng Ba đến rồi
Chỉ còn dăm bảy ngày thôi
Áo dài, khăn xếp em tôi theo chồng
Còn gì đâu để chờ mong
Trong tôi vỡ một khoảng không vô hình.
PHẠM QUYẾT
Hồng hồng tuyết tuyết
Ai gieo lòng xuống chiếu hoa
Hoà cùng sênh phách, đờn ca nhịp nhàng
Chát tom! Tiếng trống cao sang
“Hồng hồng tuyết tuyết” mơ màng… Đào Nguyên
“Thiên thai” một cõi ảo huyền
“Thú Hương Sơn” lạc cảnh tiên giữa đời
“Tỳ bà hành” khúc dạo chơi
Khiến ai xao xuyến, bồi hồi nhớ ai?
Nghẹn lòng hoa sữa sớm mai
Ngỡ thơm thoảng thoảng hương nhài Tràng An
Nghe như chim hót ái ân
Nghe như tí tách chồi xuân cựa mình…
Giọng vàng, tay ngọc, người xinh
Ca trù ai hát cho mình tương tư.
letrungtiet | 15 October, 2011 15:32
TOẠ ĐÀM BẢO VỆ QUYỀN SAO CHÉP ĐỐI VỚI TÁC PHẨM XUẤT BẢN VÀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC QUẢN LÝ TẬP THỂ.
Sáng ngày 15 tháng 10 năm 2011, tại Hội trường Cục Xuất bản - số 10 Đường Thành, Hà Nội, Hiệp hội Quyền Sao chép Việt Nam – VIETRRO phối hợp cùng Trung tâm Dịch thuật - Dịch vụ Văn hoá và Khoa học Công nghệ, tổ chức buổi Toạ đàm “Quyền tác giả đối với tác phẩm đã xuất bản và vai trò của tổ chức quản lý tập thể”.
Hiệp hội Quyền Sao chép Việt Nam có: Nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến – Phó Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành; Tiến sĩ Cao Kim Ánh - Uỷ viên Thường vụ Ban Chấp hành kiêm Phó Giám đốc điều hành; Bà Nguyễn Thị Sánh - Trưởng ban Tổ chức và phát triển Hội viên.
Trung tâm Dịch thuật có: Ông Nguyễn Hoàng Điệp – Giám đốc Trung tâm; Bà Nguyễn Thị Liên Hưng – Nguyên là Giám đốc Trung tâm.
Quang cảnh cuộc Toạ đàm tại Hội trường tầng 5 Cục Xuất bản
Về dự buổi Toạ đàm còn có Đại diện Bộ Văn hoá Thông tin và Du lịch; Đại diện Bộ Nội vụ; Đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ; Đại diện Bộ Thông tin và Truyền thông; Cục Bản quyền tác giả Việt Nam; Đại diện Hội Nhà văn Việt Nam; Đại diện Cục Xuất bản; Cục Sở hữu Trí tuệ; Hội Trí thức trẻ…Và một số Phóng viên, Báo, Đài của Trung ương và Hà Nội.
Hội nghị đã được nghe chuyên gia sở hữu Trí tuệ Đỗ Khắc Chiến – Nguyên Phó Cục trưởng Cục Bản quyền thuyết trình và trả lời các câu hỏi xoay quanh Quyền Tác giả và Tác phẩm.
Cuộc Toạ đàm đã kết thúc tốt đẹp lúc 12 h cùng ngày.
letrungtiet | 12 October, 2011 19:42
CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN
TRẦN HUY MINH PHƯƠNG
Ký ức cánh đồng
những cánh đồng trải dải xa tít
chị, em tôi bì bõm lùa vịt chiều
nắng cháy rụi
phía xa bờ rạ cũ
gọi mùa đi
chao chát nỗi buồn trôi
chân đất, đầu trần
hú gió đồng mải miết
chị và tôi
nghe tiếng thở của sao, trăng... đầm đẫm nước
khe khẽ cười
vịt đẻ dày - trong những đêm!
vẫn đầy gió
cánh đông tăm tắp nuốt chửng tuổi thơ mùi nắng rạ
vẫn mái lều tàn tạt gió bạt những chiều đông
vẫn cái sào làm cọc neo ghe bến sông bồi lở
nhớ váng phèn mỏng mảnh chênh chao...
cha ngồi đầu ghe
vấn thuốc gò vê khói hoàng hôn
tuổi bốn mươi - nâu thẫm một mái nhà!
chị trôi tuột một thời xuân nữ
thầm thĩ cùng tiếng vịt buổi chạy đồng
tôi kìm hãm nỗi khát khao: Mẹ!
trong giấc mơ - kẹt bồ lúa tuổi thơ!
vãi rơi sau mùa gặt
chị và tôi và... những cánh đồng
tiếng dầm lại khua
chiếc ghe bầu chông chênh
gọi những mùa…
Sóc Trăng, 17-1-2006
Tự khúc đồng bằng
Ta đi qua nỗi buồn
nghiêng vạt nắng ngày
rụng hòn sương muôn muốt trắng
thả vào lòng tay một cánh mỏng vành trăng
ngày quá chật ngồn ngộn toan tính hạnh phúc chung - riêng
về phía sông khoả trần bọt nước
nhận lại mình ngọn gió đời lăn
nhận lại mình trong veo ý nghĩ
ta đi qua nỗi buồn
thèm được khóc một lần như chào đời bằng tiếng khóc
không sĩ diện, ngờ nghệch, bít bùng quy tắc...
vẫn thương yêu quá đỗi chốn này
lòng đừng cài then cho hương đồng nội cỏ rủ về nhai bóng râm
hiền lành, mơ màng, nhí nhảnh, mưu trí những tên đất, tên sông, tên người,...
ta được thốt: Anh hùng!
mai có về ngang
cùng rẽ về lối sông ta từng mát ấm nôi thơ
đồng đất nẻ sau mùa gặt thơm rơm nặn hình hài cố tích
dạt dào tận cùng rừng xanh hoà thanh lá hát
mặn mòi thế, đừng phụ nhau khi ngày xế!
ra biển nhé! Bẫy đầy khoang bí mật đại dương xanh
ba trăm năm! Ba trăm năm!...
cuốn ào đất nở
cười nhé ban mai lấp lánh nắng ấm hồng
những bước chân nhanh, những bàn tay thạo
khối óc con tim - đòn bẩy của ước mơ
đất chín rồng miệng ngậm đầy thỏi bạc, thỏi vàng
hạt bụi buồn nhích qua, nụ cười tròn giòn rụm
ta đi tới
những ngày xanh xanh lắm
thơm nghe hoa và mới mãi mùa xuân!
An Thạnh 2, 19-2-2009
Hát bên dòng sông mẹ
Em cúi mặt khóc oà bên vũng kí ức
Chắp nhặt nỗi buồn thắp nến bình minh xanh
Cháy đỏ ngày khát khao chảy quanh thân nến
Ba mươi mốt năm - cuộc hành hương mới bắt đầu
Ta trẻ lắm, vắt áo xiêm gỡ tóc
Miên man qua con rạch, dòng kênh chi chít
Rướn chân lên
Hội ngộ chín nẻo nặng tình dòng sông mẹ
Ba mươi mốt tuổi hồn nhiên sau vấp ngã
Lấm láp đất quê, bùn sáp nặn ân tình
Em ngẩng mặt trông hàng dừa sai quả
Gió lừng khừng, cây trăm tuổi oằn thương
Chưa qua bão bùng sao hiểu hết quê hương!
Áo rịn mồ hôi thương mẹ ngày giáp hạt
Ú ớ giấc thơ
Con mơ một lần làm chú Cuội
Sao bây giờ lầm lụi mà thương lắm Cửu Long ơi!
Ngày xưa bên mẹ:
Bông súng mắm kho
Nước mắm dằm me đằm thương vương hương tóc
Vắt vẻo lưng trâu trẻ cười khoe răng sún
Ta ngược dòng cổ tích
Mái dầm khua câu vọng cổ
Người phương Nam khăn rằn, chân đất...
Đêm nay trên dòng sông Hậu
Ngẩn ngơ một dòng thơ
Ta lại thèm tiếng nước chảy
Gàu sòng ai múc mát miết ngày qua.
...
An Thạnh 2, 05-3-2009
TRẦN DANH BAO
Tình hoa
Em như đoá hoa rực rỡ
Hạ buồn đong mắt nai xinh
Bông lan trắng ngần tinh khiết
Cho ai? Đâu phải cho mình!
Gặp nhau một chiều vần vũ
Tôi về trong gió mưa sa
Bão nổi trong lòng tôi đấy
Vần thơ, nước mắt nhạt nhoà!
Giận đời sinh cây, sinh cỏ
Sao còn sinh đoá hoa xinh?
Để trời làm mưa, làm gió
Hành tôi một kẻ si tình!
Vô đề
Cuộc sống như con thác đổ
Ầm ào bọt trắng xô bờ
Sao tôi như hòn đá cuội
Lắng chìm dưới đáy hư vô?
Thác dồn thành con suối xiết
Chảy vào sông nặng phù sa
Sao tôi vẫn hòn đá cuội
Mỏi mòn trong cái tôi - ta?
Sông sâu chảy vào biển biếc
Mênh mang từng đợt sóng lừng
Sao tôi vẫn hòn đá cuội
Trong lòng suối cạn giữa rừng?
Sao không hoá thân đổi kiếp
Thành con sóng nhỏ giữa dòng
Để về với sông với biển
Hoà mình khi nước triều dâng…
NGUYỄN VĂN TRỮ
Tìm lại ngày xưa
Tôi trở về tìm lại ngày xưa
Mái rạ, luỹ tre quê nghèo xóm nhỏ
Hàng rào duối tơ hồng vàng trước ngõ
Mưa tháng ba ếch họp chợ ao bèo.
Cây gạo đầu làng quán cóc liêu xiêu
Đường tới lớp mua vài xu kẹo bỏng
Con sông nhỏ chiếc cầu tre soi bóng
Cô gái nhà bên ngày hai buổi đi về.
Tôi yêu vô cùng những món ăn quê
Cà muối tương dầm rau muống
Luống ngót sau vườn, cua mò ngoài ruộng
Nướng cá rô rau cải chợ chiều.
Cây khế đầu nhà cá nấu canh riêu
Thơm khói bếp khi dơi chiều chập choạng
Rơm rạ nếp nấu nồi cơm gạo tám
Rượu ngon chủ khách vui cùng.
Một đĩa muối vừng một bát dưa sung
Dân dã thảo thơm qua bàn tay mẹ
Ai đã lớn đi chân trời góc bể
Còn với tuổi thơ mớ tép kho cà…
LÊ KHẮC SUÝ
Em ngủ giữa vườn hoa
Em ngủ giữa vườn hoa
Để mình phơi dưới nắng
Mặt đá dày thô nặng
Em như chiếc lá khô.
Em có biết những gì
Ngoài kia chiều phố động
Một mình em vắng lặng
Như lọt giữa hoang sơ.
Em vẫn ngủ say sưa
Như ở nhà mình vậy
Ngọn gió nào có thấy
Giấc mơ nào có hay.
Em thiêm thiếp thơ ngây
Giấc bạc màu sương gió
Hỏi về đâu em có
Một mái ấm gia đình?
NGÀN THƯƠNG
Lời thề của biển
Có thể biển không bình yên
Trong những chiếc vòi bạch tuộc
Sự lặng im con sóng ngầm
Lấn dần chiều thăm thẳm
Nỗi đau nào hoá thành sẹo
Ngàn năm còn hằn vết môi
Bước cuồng chinh thời Bắc thuộc
Vẫn ám đau trên tao nôi
Mẹ ru dài đêm sóng cả
Từng con thuyền đi đảo xa
Gương mặt cha trần gió cát
Mơ làm người lính Nguyên Phong…
NGUYỄN NGỌC TRÌU
Tiếng ếch ao làng
Tha hương hai mươi năm
tôi trở về xóm nhỏ
ngủ lại ngôi nhà cũ
tiếng ếch
trườn qua những mái nhà, rơi vào giấc mơ
tôi nhận ra một phần giọng tôi thuở bi bô
nhận ra lời mình độc thoại…
Tiếng ếch kêu khan
nhớ lời ông nội:
“Ai sinh vào đêm không mưa mà tiếng ếch kêu lớn lên đời lận đận lắm oan khiên
nên đến cửa chùa hương khói
mỗi năm nhằm ngày bụt sinh cá đẻ…”
Đêm nay, trăng tư lự đáy ao
tiếng ếch tìm về dĩ vãng
giống như đêm sinh ra tôi (cha thường kể lại).
Phía đầu làng, có tiếng trẻ khóc chào đời
khuya quá rồi tiếng ếch vẫn chưa thôi…
2011
LÝ VĂN QUÂN
(81 tuổi - Dân tộc Nùng)
Về làng
Quê tôi nắng muộn - mười giờ
Núi cao lởm chởm răng cưa, tai mèo
Đường đi dốc lượn cheo leo
Vực sâu rừng rậm mình theo bóng mình
Xa làng, lòng vẫn đinh ninh
Những mong trở lại đắm mình sông ta
Nhắn người lỡ bước đi xa
Mau về bơi lặn, mặn mà bên nhau
Mong ngày sớm đặt trầu cau
Cho môi thêm thắm, cho sầu bay đi!
Đời ta chẳng thiết điều gì
Chỉ mong kề má - thầm thì bên tai
Chẳng mong ngồi trốc, tiền tài
Chỉ mong hoà hợp, tấu hài rộn vang!
Hỡi ai xa nước, xa làng
Mau về tạo dựng giàu sang làng mình!
Tiết Thanh minh năm Tân Mão (2011)
TÂN CƯƠNG
Về quê chạp họ
Đạp xe về chạp họ
Quê mình Kinh Bắc xa
Ngun ngút đường đã nhựa
Phố có chờ đợi ta?...
Dâu thắm tình Quan họ
Làng ven sông bến đò
Thoi thuyền vút dáng lá
Sông trăng đầy hoang sơ
Tuần tiết vàng mộ tổ
Nắng trong màu thanh minh
Ríu rít bầy - ong thợ
Phúc - Lộc… màu tươi nguyên
Sông Cầu, ơi sông Cầu!
Ngã ba Sà, bến Ngọt
Ôi hồn thiêng Thường Kiệt
Đâu hào khí Tam Giang?
Về làng mươi cây số
Giọt nước về với sông
Chim chiều về với tổ
Mai bay trời mênh mông…
Đình Xuyên, 8-2-2004
VĂN Ê
Theo mẹ đi chợ Âm Dương
Mồng bốn tháng Giêng về làng Ó
Thức thâu đêm với chợ
Để được nghe cái hồn của gió
Để lạc vào huyền thoại cõi thiêng
Bên tha ma chợ không lều quán
Nhập nhoạng đất trời giao hoà Âm Dương
Không đèn nến tâm linh mua bán
Không nói cười lặng lẽ đi, nhìn
Mẹ thì thầm nói chuyện với ai?
Về mẹ kể:
- Rằng người lần trước…
Em thì thầm nói chuyện trong mưa
- Tình mệnh bạc khi chưa hiểu biết
Chị say sưa những điều chì chiết
- “Sao anh lại ngỏ lời
Vào một đêm trăng khuyết…”
Lầm lũi anh đi trong giá rét
Sa trường đồng đội tri âm
Âm hưởng chúc mừng đầu xuân
La rằng giọng ai giải hạn
Qua đêm mặt trời ló rạng
Đi còn khuất nẻo trong nhau.
19-2-2010
letrungtiet | 28 September, 2011 09:53
CÁC BÀI THƠ DỰ THI "THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI" ĐÃ ĐƯỢC CHỌN in
|
|
ĐỖ THƯỢNG THẾ
Niệm sông
Bà ơi!
Ngày ngày
Ngụp trong bụi phố
Cháu lại thấy
Con sông quê mình phăm phăm về phía nghẹn đêm
Đêm vỡ ải như trạnh cày sục ruộng
Từng đàn bò quày đầu bên kia bờ ào lên cơn sập nước
Lớp lớp chân non giạt những mùa giông
Giạt tiếng chim bập bềnh sương giá
Giạt tàn đuốc sậy giạt thất thanh đỉnh lũ giạt lùm lùm khuya
Dế giun thức nồng hơi đất
Bãi cồn dần dần nhô lên mỗi lúc một xanh
Mỗi lúc một dâng lên đỉnh núi người già
Những vẻ mặt thâm u xa vắng những trầm tư buồn đau và nỗi tàn kiệt
Tạc gành đá lạnh… cheo leo
Dâng lên mái ngói âm dương chùa làng rêu ám
Dâng lên tàng cây gió sớm/ con đường chợ mai khuất - hiện triền sông
Hoa gạo rực chói - ngọn đăng tháng ba
Lau lách thức mùa tu hú
Bà ơi!
Doi cát hình chiếc lá chênh chao ngày hạ
Lũ nhóc dung dăng xới lửa đồng dao
Giấc mơ của chúng mọc lan như loài cây nghể cây rì bóng mướt
Ở đó
Những con sóng xanh xao ắp nỗi trở về
Những con sóng hồn nhiên đuổi ngày rồi ôm cầu vồng tuổi dại ra đi…
Những thì thầm của đàn cò ráng lửa
Những rầu rầu tiếng huýt sáo của người cắm bõi
Cánh buồm tha phương ốm trên bến vắng
Và mồn một ngôi nhà chống cửa hướng bờ xe nước
Cháu nghe rất rõ giọng bà ru em gái cháu dưới chái hiên chiều
Gọi cháu trong vườn bắp phun cờ
Rồi lần gọi ấy
Tháng tám miên man mưa
Những mưa… những mưa… những/ mưa
Sặc bụi áo cơm
Ròng ròng mắt đỏ…
Bà ơi!
Bà ơi!...
… Từng cụm áo tơi qua sông bắt đầu um khói.
Viết theo nhát cuốc
của chị
Thỏm trong mắt ngày về
nắng
nắng
chị và ruộng đồi
và dốc làng và mây xa…
bùng sôi đom đóm
Nào thương… nào yêu… nào nhớ…
nào nào…
thơ về quê hương
nhiều hơn đá cháy
nhiều hơn người cuốc bệ
Hạn rang trụm
miền chồi đọt đời người
chị thèm… và từng
nuốt sống cơn giông
Bứng đi đêm xanh mặt
cùi cụi xới chiếc bóng
ngày từng ngày
tưới lên từng ngày những chúc tụng non tươi
tự ngào ngạt
tự mỡ màu
tự niềm lỡ trưa mọc cánh
Không cầm được
giọt cay
rơi vẫn rơi…
chị ơi!
mỗi nhát cuốc
hương mùa neo đậu.
Tự khúc
Với các bạn cùng lứa miền quê Đại Hồng
Có gì tận đáy nỗi buồn chòi ra từ giọng chào mào leo lẻo tháng Giêng
như chú bò con vừa mới đẻ sau vườn bết lấm cỏ khô tháng Chạp
Đại Hồng! Ơi… Đại Hồng! Ai đó từng gọi ta như thế khi ta lầm lũi trên con đường gai
khi ta sốc nỗi dại cuồng hoang vu đến đuối
Đại Hồng! Thì ra con dế trống lửa vẫn xoay đầu ra Cựu Thổ lầm lầm lì lì tro bụi
điệu gáy nực nồng nụ hoa bù sít
Vẫn bện chạc trâu vẫn khấc dòm bò dắt giấc mơ ta qua cầu Đàng Huỳnh
qua ngã Hai Sông, qua khe Đá Trải
qua bao mùa lụt “cộc đầu gốc dâu”
nước lũ xô làng cuốn trôi bát hương bát gạo
cuốn trôi biền biệt duyên thì chị ta
Đại Hồng! Ta lại trở về băng cồn Tịnh Đông cạp nhai bắp sống
hít no sữa đất tươi non bằng hai hàm răng sún của thằng cu Dân xóm Chùa một thời đen đúa
Một thời quần cụt lưng trần ngồi bệt xuống chiều mơ chén cơm không(*), giẽ con cá lầm cá nục
Một thời mẹ ta rạc chân chợ sớm chợ chiều đò ngang đò dọc còng lưng bánh khoai bánh sắn
Cha ta dầu dãi tắc-rì(**) ngọn roi cứ rứt lòng vút thét
Nước mắt trâu già nhiều khi chảy ngược
khiến cánh đồng hoàng hôn thăm thẳm và buồn
Một thời cả làng sớm hôm mót củ, họ hay kể nhau nghe câu chuyện bỗng dưng nhặt vàng
Rồi bỗng dưng luống cày ửng màu cổ tích
Và những khi tận cùng cố sức, họ thường: - “I-cờ-rếch (y) nằm ngay tại chỗ!...”
Ôi, cách giễu cuộc người như say
Ta lại trở về ngôi trường chân núi
Bạn ta áo vá mảnh dưa mảnh lúa Hà Vi, Lập Thạch
bạn ta tóc săn đỏ nắng đầu nguồn Hữu Trinh, xóm Mới
da chì vỏ sắn Phước Lâm
Con chữ một thời ẩm mùi đất bệ, quánh nhựa cây rừng lấm lem tro rẫy và từng biết nhặt lên từ thảm máu sân trường(***)
Đại Hồng! Thì ra trong những niềm lửa hạn đời ta
toả biêng biếc Vu Gia cánh buồm ngược nguồn lằng lặng
toả tím ngát cỏ lau sương chiều Mồ Côi, Mụ Đụng
rần rần bóng nước Khe Lim tiếng vượn chót gành mòn mỏi
toả hơi thở cơn mưa trẻ trung mùa hạ thơm mát ngực em trăng đầy…
Đại Hồng!
Những tháng ngày mù mịt
ta thường mơ về khu vườn tụ gió
bốn phương
ở đó thầy ta gầy gầy mắt kiếng, đêm đêm treo ngọn đèn thơ.
(*) Cơm không độn.
(**) Tiếng hô điều khiển trâu, bò cày sang trái, phải.
(***) Vụ nổ bom còn sót lại sau chiến tranh đã làm chết và bị thương nhiều học sinh trong lúc lao động trên sân trường (1977).
NGUYỄN THỊ MAI
Bão về sau Tết
Quất còn vàng tươi trĩu quả
Đào chưa nở hết búp hồng
Chào nhau vẫn lời chúc tụng
Mà thấy chuyển trời bão giông
Bão không từ phía biển Đông
Mà từ phía em về chợ
Chiếc làn trên tay nặng gió
Cá tôm bạc mặt như người
Bão không tháng bảy, tháng mười
Ập vào giêng hai bất chợt
Mạ vừa qua cơn cóng buốt
Cấy rồi, tay mẹ càng run
Chẳng thấy cây cành đổ gẫy
Bão không cấp mấy giật nhà
Chỉ siêu những toà, những tháp
Bước tiền, bước giá tràn qua
Mà đi viết về thơ hoa
Mộng mơ gió thông Đà Lạt
Trang giấy hồn hoang, chữ nhạt
Thổi em ngơ ngác bão ngày.
Con về Kinh Bắc làm dâu
Lòng yêu sông Đuống, sông Cầu
Con về Kinh Bắc làm dâu đất lành
Đất lành hoa lý, hoa chanh
Thảo người Quan họ, sáng tranh Đông Hồ
Gót hồng con gái phố Đô
Chưa từng khoai sắn, lúa ngô… đồng làng
Dám vương rơm rạ mùa màng
Để nâng niu cả tập tàng rau quê
Phía yêu thương ấy con về
Nhẩn nha mà bước đất lề, đường trơn
Người quê mắt biếc lòng son
Dâu hiền là trọng làm con cái nhà
Từ vòng tay mẹ con xa
Là từ quả thị Tấm ra cuộc đời
Bàn chân dù khắp biển trời
Vẫn lon ton thuở ru hời mẹ thương
Con về Kinh Bắc quê hương
Theo người ngoan đất văn chương hiền tài
Mẹ ngồi tạ núi Thiên Thai
Nối duyên loan phượng lâu dài tình con.
Thanh Xuân, 30-11-2010
Hỏi người đi chợ Khâu Vai
Phải em chẳng trọn với mình
Mà mình phải đến chợ tình Khâu Vai?
Lặng nghe dốc núi thở dài
Gió rừng hổn hển bên tai đá ngàn
Bước mình mây nắng chan chan
Bước em bếp núc lửa khan nguội ngàng
Giêng hai hụt chiếu hội làng
Tầm xuân mắt biếc liếc sang tìm người
Chợ tình, đêm mượt, sương tươi
Gói mèn mén lạnh trao mời lọt tay
Rượu thầm một ngụm chung say
Rồi xuôi,
suốt tháng,
suốt ngày
lâng lâng
Chợ tình, mình thích
em vâng!
Thì đi cho thoả trào dâng khát chờ
Đêm nay ngồi gõ gu gờ (Google)
Thấy cao nguyên đá mịt mờ… mà thương.
25-2-2011
KIM MINH
Cơn gió lạ qua miền
bình yên
Có một miền bình yên
Nơi bầu trời trong xanh và cao rộng
Mây bồng bềnh nhẹ vương làn tóc nắng
Gió dịu dàng cây nũng nịu lả lơi
Có một miền bình yên
Không lo âu suy nghĩ, chẳng ưu phiền
Không ồn ào giận dữ chẳng bon chen
Nhẹ bẫng tâm hồn, hồn nhiên ánh mắt
Rồi một ngày cơn gió lạ qua đây
Mang giông tố và mưa đến dữ dội
Trống vắng, cô đơn tìm về nông nổi
Xáo trộn bầu trời, sầu rơi đôi mắt
Là gì nhỉ bình yên tự hỏi mình
Sẽ là ta khi lòng không gợn sóng?
Là ta khi ồn ào chẳng qua đây?
Là ta khi yên lòng không trăn trở?
Gió vi vu, phố ồn ào ta hiểu
Vẫn là ta khi giông đến bất ngờ
Vẫn là ta khi chiều vương nắng nhạt
Vẫn là ta khi xô bồ trong tâm trí
Là ta khi thấy mình chưa sỏi đá
Khi hạnh phúc đang đợi cuối con đường
Thoang thoảng mùi hương mang tên nỗi nhớ
Tim lỗi nhịp chiều trăn trở hoàng hôn.
23-4-2010
Nỗi nhớ chưa đặt tên
Khi cuộc sống hối hả lướt ngang qua
Chợt nhận ra em chỉ còn nỗi nhớ
Nỗi nhớ mênh mông cồn cào da diết
Cứ âm thầm lặng lẽ chẳng buông tha
Nhớ cỏ hoa xuân về hương thơm mát
Nhớ tiếng ve ngân phượng thắm ngày hè
Nhớ bếp lửa rực hồng sương ướt áo
Nhớ heo may lá úa gọi thu về
Nhớ dáng cha gầy dãi nắng dầm sương
Gió lạnh đêm khuya ấm áp tình mẹ
Nhớ từng chiều em thong thả đạp xe
Nhớ lắm con đường còn in bóng nắng
Ngược dòng hoài niệm, nằm ru nỗi nhớ
Chợt nhận ra còn nỗi nhớ không tên
Vẫn lạc đường, bơ vơ trong lồng ngực
Đã vô tình gửi sầu vương trên mắt
Ngày gặp anh bắt đầu cùng nỗi nhớ
Cái nhìn thoáng qua nụ cười nửa miệng
Chiều buồn tênh chẳng thể nào giấu giếm
Muốn nhờ anh, cho nỗi nhớ mang tên.
27-4-2010
letrungtiet | 27 September, 2011 13:31
BÌNH THƠ
Trân trọng giới thiệu bài Bình thứ 99 của Vân Đình Hùng về bài thơ "Mắt xưa" - Nguyễn Lâm Cẩn
Mắt xưa
Tặng B - Học sinh của tôi
Mắt em xưa
Men say ủ mật
Thời gian thao thức
Cái thời khát khao
lệch mười ngọn núi
và chín con suối theo em thì thào
và con sông Mã cắm trăm con sào…
Rồi sớm mưa rào
Rồi chiều nắng đổ
Rồi đêm cóng ngõ
Mắt bay khỏi hồn
Mở ra ngơ ngác hoàng hôn…
Lời lời nói đủ điều khôn
Lá rơi phận mỏng bồn chồn rừng hoang
Lắt lay trăng đổ lá vàng
Ai xui trót nhặt để ngang ngửa đời?
Thóp ngực tìm hơi
Lửa hư ảo lòng ai nhen nhóm
Quạ tha hồn mắt
Bỏ hang Dạc Dìn*
Mắt xưa thao thiết ánh nhìn
Soi vào tận đáy cầu xin giọt vàng
Giọt thiêng thấm cõi mơ màng
Gọi tình về chốn mang mang Xứ Mường
22/2/2011_Nguyễn Lâm Cẩn
*Tên một hang ở Cẩm Lương
Vân Đình Hùng - Tác giả bài bình
Bài thơ Mắt Xưa của Nguyễn Lâm Cẩn tôi đọc được trên blog của nhà văn Lê Trung Tiết. Nguyễn Lâm Cẩn là thày giáo dạy văn, tôi chắc thế. Thôi thì ta cứ tạm bỏ cái quan hệ thày trò để nói đến quan hệ trai gái Mường cho dễ bàn. Bản thân tác giả đã biết giữ được khoảng cách vừa đủ để quan sát, đủ cảm nhận để khắc ghi những phút giây xao xuyến.
Cái thời khát khao men say ủ mật, lệch chín con suối, lệch mười ngọn núi… làm nên cái tứ thơ bay sánh ngang với đàn chữ mà các bài thơ tình đã thả vào bầu trời thi ca. Nó ra sau Trường ca Đẻ đất đẻ nước khá xa, nhưng nó vẫn là tiếng lòng của người Mường, của trai Mường với gái Mường. Mường Hòa Bình có: Bi, Vang, Thàng, Động. Mường Xứ Thanh, Mường Phú Thọ, Mường Điện Biên, Lai Châu… người Mường ở khắp nơi trên dải đất chữ S, tuy cùng một dân tộc Mường, nhưng mỗi nơi mỗi vẻ tạo nên cái đa dạng của bản sắc Mường.
Một ngày hai buổi sớm chiều, đến đêm nữa là ba, ba buổi ngóng trông. Mỏi mắt ngóng trông mà mắt bay khỏi hồn/ mở ra ngơ ngác hoàng hôn… sớm mưa rào, chiều nắng đổ, đêm cóng ngõ… lối diễn tả của Nguyễn Lâm Cẩn như lối nói của người Mường, đầy ắp thông tin mà rất kiệm lời. Bài thơ được tác giả chia làm năm phần, mỗi phần một sắc thái, một cách thể hiện, một cách trình bày chữ khác nhau.
Cái khát khao hiện lên ngay ở khổ đầu. Khổ sau là những trải nghiệm được thời gian làm chứng. Thế mà lời lời nói đủ điều khôn/ lá rơi phận mỏng bồn chồn rừng hoang. Lá rơi hoa không nở, không có mùa xuân cồng chiêng ầm u, bình boong… chỉ có thu buồn sắc đỏ. Đỏ lá, đỏ mùa. Mùa chờ đợi trong nuối tiếc ngậm ngùi. Đến khổ bốn là cuộc lãng du của lửa lòng hư ảo, bấu víu những mong manh còn sót lại. Lên đường! Nhưng chớ trêu thay, cái đi tìm là hồn mắt biết nói kia quạ tha bỏ hang Dạc Dìn mất rồi. Nơi đáy hang thâm u, hồn mắt chờ một Thạch Sanh, mà nhà thơ lại chỉ là một văn nhân!
Thế là hồn mắt về với phía ngày xưa, trở thành ký ức. Và nhà thơ thổ lộ đã từng soi vào tận đáy cầu xin nơi ấy, nhưng cái giọt kia lại không kết thành lệ. Nó thiêng liêng, riêng khác, được nâng niu giữa vô vàn kỷ niệm của nhà thơ - giọt tình. Khắp các cõi Mường tự dưng mang mang lời gọi tình trong nền trầm bi boong của dàn cồng qua cái đấm nhẹ của cô gái Mường lên núm cồng cô đơn. Mây sơn cước ngả màu bàng bạc. Trời Mường in bóng suối nghẹn chảy, ngập ngừng quanh tảng đá, nơi hai người đã từng hò hẹn.
Khổ cuối của Mắt xưa đẩy người đọc vào không gian Mường khá đặc trưng. Những phút giây siêu thoát, tách khỏi cuộc đời tục luỵ, hồn ta cũng theo bầy làm một chuyến vu sơn.
Tình yêu bắt đầu từ đôi mắt, ngày mai bắt đầu từ hôm nay, lời của bài hát "Hát về cây lúa hôm nay" ngày nào vẫn còn quanh quất nơi bàn viết của tôi để cùng chia sẻ, cùng cộng hưởng cái âm hưởng yêu thương sáng trong. Trăm con sào cắm trên sông Mã ngày ấy là chứng nhân vĩnh viễn cho tình yêu với cái đẹp, với vẻ đẹp nồng nàn của con người với con người, bất chấp lễ giáo, lễ nghi, bất chấp sắc phục và bất chấp thời gian. Nó mãi đẹp và ửng chín trong những người vào yêu.
Ngày 27/9/2011_Vân Đình Hùng
letrungtiet | 25 September, 2011 02:30
HỘP THƯ DỰ THI THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI HỘP THƯ SỐ 10
HỘP THƯ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI”
HỘP THƯ SỐ 10
Trong thời gian vừa qua Ban Sơ khảo chúng tôi đã nhận được bài dự thi của các tác giả sau:
1) Phạm Đồng Tình – Hà Nội – 5 bài
2) Đinh Hữu Dung – Hà Nội – 10 bài
3) Bàn Hữu Tài – Thái Nguyên – 9 bài (gửi lần 2)
4) Lê Thị Khính – Thái Nguyên – 10 bài
5) Đặng Quốc Bình – Hà Nội – 1 bài
6) Phạm Đức Hữu - Nghệ An – 6 bài
7) Đặng Quang Trung - Đồng Nai – 3 bài
8) Nguyễn Huy Thảnh – Long An – 10 bài
9) Nguyễn Tiến Thành – Hà Nội – 10 bài (gửi lần 3, quá quy định)
10) Trần Đức Đủ - Bắc Giang – 4 bài (gửi lần 2 và3)
11) Nguyễn Khắc Chinh – Vĩnh Phúc – 4 bài
12) Nguyễn Văn Quảng – Bà Rịa Vũng Tàu – 8 bài
13) Nguyễn Hữu Hùng – Vĩnh Phúc – 11 bài, quá quy định 1 bài
14) Tuấn Linh – Vĩnh Phúc – 8 bài
15) Phạm Ngọc Lễ - Nam Định – 8 bài
16) Nguyễn Ngọc Liễn – Hà Nội – 4 bài
17) Ngô Nhật Thăng – Nam Định – 3 bài
18) Nguyễn Huy Đạt – Thái Nguyên – 1 bài
19) Nguyễn Xuân Quốc – Lâm Đồng – 3 bài
20) Nguyễn Bá Hoà - Quảng Nam – 6 bài
21) Quỳnh Hoa – Hà Tĩnh – 3 bài
22) Nguyễn Đình Luận – Hà Nội – 12 bài, quá quy định
23) Mai Hoa – Hà Tĩnh – 2 bài (gửi lần 2)
24) Nông Thị Quy Quy – Lâm Đồng – 7 bài
25) Tạ Thị Ngọc Hiền - Lâm Đồng – 10 bài
26) Mai Thị Viên - Cần Thơ – 5 bài
27) Lê Đình Tâm – Hưng Yên – 10 bài
28) Vũ Mạnh Ngọc - Hải Dương – 5 bài
29) Du An - Điện Biên – 3 bài (gửi lần 3)
30) Trịnh Đăng Khải - Hải Dương – 1 bài
31) Phạm Bá Dực – Hà Nội – 3 bài
32) Phạm Minh Dũng- T.P H C M – 5 bài
33) Nguyễn Tiến Minh – Hà Nội – 5 bài
34) Vũ Ngọc Thu – Lâm Đồng – 1 bài
35) Trịnh Chu Sách – Hà Nội – 8 bài
36) Nguyễn Minh Khiêm – Thanh Hoá – 1 Trường ca
37) Phạm Quyết – Hà Nam – 10 bài
38) Đỗ Văn Từ - Hải Phòng – 3 bài
39) Bình Sơn - Hải Phòng – 18 bài, quá quy định
40) Lê Viết Quế - Bà Rịa Vũng Tàu – 1 Trường ca
41) Nguyễn Thị Hoa – Ninh Thuận – 10 bài
42) Huỳnh Minh Tâm - Quảng Nam – 3 bài (gửi lần 2)
43) Minh Phương – Hà Nội – 3 bài
44) Nguyễn Khắc Pho – Hà Nội – 10 bài
45) Nguyễn Tiến Bình – Hà Nội – 12 bài, quá quy định 2 bài
46) Dương Đức – Bình Thuận – 5 bài
47) Phạm Văn Yêng – Nam Định – 5 bài
48) Lê Văn Long - Cần Thơ – 3 bài
49) Nguyễn Thị Hoa – Hà Nội – 6 bài
50) Nguyễn Duy Đạt – Thái Nguyên – 1 bài (gửi lần 2)
51) Hoàng Bân – Vĩnh Phúc – 7 bài
52) Nguyễn Hoài Nhơn - Đồng Nai – 7 bài
53) Vũ Thị Hồng – Phú Thọ - 2 bài
54) Vũ Vệ - Vĩnh Phúc – 1 Truyện thơ
55) Trương Đình Đăng – Đà Nẵng – 2 bài
56) Phạm Văn Liên – Nam Định – 9 bài
57) Trần Đăng Bút – Nam Định – 10 bài
58) Trần Vương Luyện – Hà Nội – 5 bài (gửi lần 2)
59) Lâm Thị Minh Hiền – Nam Định – 2 bài
60) Phạm Hồng Quảng – Nam Định – 11 bài, quá quy định 1 bài
61) Vũ Huy Tâm – Nam Định – 10 bài
Ban Sơ khảo chúng tôi chân thành cảm ơn và mong tiếp tục nhận được các bài thơ dự thi của các tác giả.
BSK
Tục trần say điều ước
Ngại ngùng một chữ TÂM.
| « | January 2012 | » | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Su | Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa |
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 |
| 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 |
| 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 |
| 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 |
| 29 | 30 | 31 | ||||