ĐT:0913397722 - 0977993365
0436883903
letrungtiet | 17 March, 2010 22:14
VẲNG TIẾNG RAO XƯA
Tản văn của Lê Trung Tiết
Trên đường về quê thăm cha mẹ, bao giờ tôi cũng rẽ qua chợ Cầu để mua một ít chè tươi. Với cha mẹ tôi đây là một món quà đáng giá nhất, quý hơn cả những thứ sơn hào hải vị đắt tiền.
Xưa mẹ tôi là một cô gái bán chè tươi có giọng rao mềm như lụa. Chỉ nghe tiếng rao thôi đã thấy vị ngọt bùi của khoai lang, vị chát mát của chè tươi ướp vào đầu lưỡi.
"Ai một khoai hai chè
Có muốn uống dè, một chè nửa khoai
Ai chịu đến mai, góc khoai nửa chè"
Hình thức trao đổi ấy sòng phẳng mà chín bỏ làm mười, tình người ấm áp. Đơn vị tính là một cái rổ, nhỏ hơn cái mũ nồi làm vật ao khảo, cứ một rổ khoai đổi hai rổ chè. Quê cha tôi là đất trồng màu nên khoai lang nhiều như những đụn rạ. Còn Thượng Lâm, quê mẹ tôi thì chè quây kín làng như những rặng tre. Cha tôi đã say đắm tiếng rao thanh mảnh mà hiểu được tường tận cảnh của những người nghèo, ai mà có chịu thì cũng không phải trả thêm.
"...Có muốn uống dè một chè nửa khoai.
Ai chịu đến mai, góc khoai nửa chè"
Và thế là cha mẹ tôi đã nên nghĩa vợ chồng.
Ngày tôi còn bé, cha tôi gánh hai thúng khoai lặc lè về sân. Cha bảo: "Con rót cho cha bát nước". Tôi bê trên tay bát nước chè xanh đặc sánh. Cha nhìn tôi ân cần: "Cha đã nói với con nhiều rồi, nước chè có bọt như thế này là không uống được đâu, vào rót lại đi". Tôi bê bát nước chè vào nhà thì anh tôi giằng lấy bảo: "Mày đưa tao". Rồi anh lấy tăm chọc vỡ hết những cái bọt. Hai anh em tôi cười rinh rích trong nhà. Tôi lại bê ra cho cha. Cha tôi trừng mắt hỏi: "Đứa nào làm trò này?". Tôi bối rối giây lát, rồi trả lời lưu loát: "Dạ...Dạ không, con rót đấy ạ". Cha tôi đứng bật dậy, rút cái roi gác ở mái hiên. "Hai thằng vào nằm sấp". Tôi nem nép nằm trong, anh tôi nằm ngoài. Cha bảo: "Hôm nay cha phải đánh các con vì tội nói dối, một roi thật đau cho mà nhớ. Bé không vin, cả gãy cành". Rồi cha giơ roi lên "Vút". Anh tôi ưỡn mông lên hứng lấy tất cả cho tôi khỏi đau. Buông roi cha chạy vội vào buồng, và mẹ tôi cũng ào theo. Một lúc sau, tôi thấy lông mi trên mắt cha tôi dạt về một phía, và mắt mẹ tôi vẫn còn ươn ướt nước. Tôi thấy ân hận quá, chỉ vì tôi mà cả nhà phải khóc.
Hồi ấy nhà nào đến lượt mang nước ra đồng là vinh dự lắm. Ai cũng muốn được mời người khác ăn khoai, uống nước chè tươi khéo nấu của nhà mình. Mọi việc chuẩn bị từ sáng sớm. Chọn những lá chè xanh, dày và không quăn mép. Bẻ những phiến lá vỡ tanh tách như bánh đa thì nước mới ngon. Khi chè đã sôi, chế thêm một gáo nước mưa để hãm. Nước chè cứ xanh mãi cho đến khi phải nghiêng nồi, dí gáo. Đến giữa buổi cày thì gia đình đến lượt mang nước sẽ gánh một thúng khoai lang và một nồi mười nước chè tươi ra đồng (nồi mười bằng đồng, đường kính đáy rộng khoảng năm mươi phân, trên miệng nhỏ hơn). Lúc nghỉ giải lao mọi người gọi nhau ơi ới về gốc gạo to bát ngát gió đồng để:
Vắt chân chữ ngũ
Đánh củ khoai lang
Chè tươi một bát
Sướng như ông Hoàng
Năm tháng đổi thay, bây giờ có bói cũng chẳng thấy một người đi bán chè tươi nữa. Những cái ấm tích hãm chè tươi giờ đã sứt vòi nằm nép ở ngạch nhà. Cái giỏ tích chỉ còn là cái vỏ đựng hành khô trong xó bếp. Thay thế chè tươi là loại chè khô sặc mùi thuốc kích thích và nồng nặc hương sen hoá chất. Giữa buổi cày có ai dám mời nhau bằng bia, côcacôla, Fanta hay Sprite, nước khoáng. Những túi giấy bóng, những vỏ chai nhựa đã làm thưa dần những cánh cò trên cánh đồng ca dao cổ tích. Đầu ngõ inh ỏi tiếng còi bán kem nghe gắt gỏng như tiếng ễnh ương không gọi được bạn tình. Tiếng rao bán báo bằng loa phóng thanh, tường thuật các vụ án nghe đến gai người. Còn đâu tiếng rao mềm như lụa và chan chứa tình người:
"Ai một khoai hai chè
Có muốn uống dè, một chè nửa khoai
Ai chịu đến mai, góc khoai nửa chè nào".

Các nhà văn Hà Nội tại Nam Ninh - Trung Quốc



Các hình ảnh về chuyến đi Nam Ninh
letrungtiet | 17 February, 2010 23:01

Nha tho To Thi Van va nha van Le Trung Tiet tai Hang Chau - Trung Quoc
Nhân đọc Ao bèo gợn sóng của Lê Trung Tiết
Tôi được tác giả tặng cuốn sách nhân dịp về Hà nội. Cầm cuốn sách của anh, liếc qua tựa đề, cái tên đã gợi cho tôi về một miền quê nào đó. Và tôi đã đọc trên máy bay. Lúc máy bay hạ cánh cũng là lúc tôi đọc đến đọan cuối của cuốn tiểu thuyết ! Và quả là cảm nhận của tôi về tựa đề cuốn cách đã không nhầm.
Trên đường từ sân bay về nhà, đầu tôi vẫn hiển hiện các câu chữ, những nhân vật nhiều vô kể, những cái tên dân dã, những câu chuyện làng quê gần gụi, những hủ tục, những toan tính của những con người cả đời « chưa được đi Hà nội ». Mỗi nhân vật trong cuốn tiểu thuyết đều có những trăn trở, những đau khổ và những nỗi niềm riêng. Kẻ nghèo hèn lo bát cơm manh áo, kẻ có chút thế lực thì kiếm cách vơ về mình những bổng lộc. Kẻ hiền lành chân thật đến ngây ngô, kẻ thủ đoạn đến nham hiểm...
Trong truyện, tác giả đã sử dụng nhiều từ « cay đắng » để gán cho mỗi số phận của nhân vật của mình. Thân phận người phụ nữ sao đắng cay. Họ như bị truất hết, đến cả những món quà mà Thượng đế vẫn dành cho họ. Những nỗi niềm ẩn kín, những khát khao được ve vuốt yêu thương bởi một người khác giới sao với họ cũng thật nhọc nhằn. Những nhân vật như Lệ - một phụ nữ phải cưới vội để chồng (Đức) phải đi B. để rồi đứa con sinh ra không bao giờ biết mặt cha, như Toan - con người do bị chính cha mẹ mình khi dễ mà cố gắng vươn lên, bỏ qua mọi hạnh phúc riêng tư, thiên bẩm được mẹ, để rồi làm tới chức chủ tịch xã, mỗi lời nói chị phát ra như sấm như sét, để rồi cuối cùng... chị còn lại gì... ? Ham muốn được làm người đàn bà theo đúng nghĩa của nó, ham muốn được làm mẹ..., bà cựu chủ tịch xã « hét ra sấm » năm nào đành chấp nhận lấy lẽ một ông lái lợn xề - Phếch -, chăm chút người vợ cả của chồng - Lân, một người đàn bà ốm liệt nửa người cả mười mấy năm, rồi cuối cùng vì tủi hờn nên đã nuốt thuốc chuột tự tử... Rồi đến Vi, người con gái miền nam vì yêu thương Tố, một chiến binh để rồi bỏ cả cha mẹ để theo chồng ra đất Bắc. Nhưng miền quê nhọc nhằn ấy, quanh năm cơm không đủ no, cộng với cảnh mẹ chồng nàng dâu, rốt cục chị cũng đành gạt nước mắt để lại cho chồng một lá thư từ biệt... Hay như Phả, em dâu của Lệ, chỉ vì những hủ tục, dẫn đến hiểu lầm, từ một người con gái chân quê, bị chồng ruồng bỏ, phải lang bang ra tỉnh kiếm sống bằng nghề rửa bát...
Những nhân vật đối kháng nhau, nếu như có những nhân vật nữ hiền lành chân chất thì lại có những bà đanh đá đến điêu ngoa, như bà Luân, chị gái của Lệ và chị chồng của Phả. Bà ta có thể sả ra hết mọi « lời hay ý đẹp » nhất trong các bài chửi và kéo dài cả ngày liền không chán. Hay bà Hân, chị chồng của Thơm...
Những toan tính nhỏ nhoi manh mún của người dân quê cũng được tác giả xây dựng khá thành công trong tác phẩm. Những mánh khóe mà « chỉ người dân quê ấy mới có thể nghĩ ra » luôn được tác giả khắc họa bằng những mảng màu khác nhau.
Những nhân vật nữ thì vậy, còn những nhân vật nam thì sao ? Hình như tác giả có phần thiên về nữ hơn, nếu các chị, các bà các cô được tác giả dầy công len lỏi đi vào từng góc ngách tâm hồn họ, lột tả tất cả những điểm yếu mềm, thuần thục nữ tính, dũng cảm, khẳng khái và cả thói điêu ngoa ghê gớm, thì các nhân vật nam vẫn chỉ là phần bề ngoài mà thôi ! Tại - Chủ nhiệm hợp tác xã, mà theo như tác phẩm là một nhân vật « hẳn hoi » nhất thì cũng chỉ dừng lại ở đó. Sau một đêm « thăng hoa » với Lệ, thì ông ta đã làm gì... tìm cách gả Lệ cho Thuấn, một đứa cháu ruột, gọi ông ta bằng chú, một người tàn phế, tầm thường nhỏ nhoi đến cả trong cách nghĩ... Cách điều hành quản lý HTX của ông ta ra sao ?... Tố, một cựu chiến binh thì cũng không dám đứng lên bênh vực, và trên hết anh đành để vợ bỏ về Nam mà chẳng làm được gì... Thành, yêu vợ (Toan) tha thiết nhưng rồi cũng không bước qua được ngưỡng cửa của những lệ đời. Đức, một người « hoàn hảo », nhưng chết trận, để lại người vợ trẻ chăm sóc mẹ chồng và đứa con thơ chưa từng biết mặt cha... Những nhân vật nam trong tác phẩm của anh dường như đã bị lấn át.
Xuyên suốt tác phẩm là Các, thường gọi Các kẹ. Một con người thông minh, trực tính, nhân hậu... dám nói những điều mình nghĩ và ra tay giúp những con người thấp cổ bé họng, nhưng rồi anh cũng lại bị trù rập, bị đánh đến gẫy mấy chiếc răng cửa và thâm tím cơ thể. Nhưng anh lại như là một niềm hy vọng, một cái phao cứu hộ của những người chỉ biết « bán mặt cho đất, bán lưng cho giời ! »
Tác giả đã dùng lối kể chuyện dân dã, đôi khi mai mỉa, khiến bạn đọc đôi lúc không khỏi cười tủm tỉm. Tác giả khai thác đề tài nông thôn, mượn một vùng đất cằn cỗi « trâu ăn đá, gà ăn sỏi » để trút bầu tâm sự. Anh day dứt về nhân tình thế thái. Cuốn sách như một tiếng kêu sót thương cho số phận của những người dân hiền lành chân chất. Tính nhân văn khá cao, mặc dù khi kết thúc truyện, các nhân vật đáng thương vẫn còn chìm đắm trong cảnh bần hàn, nhưng đâu đó, bạn đọc vẫn nhận ra như có một tia sáng le lói thoát ra từ phía cuối đường hầm. Phả đã tìm được đứa con và gặp được một người chồng tử tế, Lệ dù gì đã tiến bộ, làm đến chức kế toán, Lân chết khi trong lòng đã thanh thản vì biết đứa con duy nhất của mình đã được một bàn tay nhân hậu chăm sóc. Toan đã được làm vợ, Lụa đã đứng trong hàng ngũ những người cầm cán cân công lý. Vi đã được họ hàng nhà chồng chấp nhận...
Bỏ qua phần bố cục tác phẩm mà do tác giả đã đưa vào truyện quá nhiều nhân vật, nên có một số bị lãng quên, bạn đọc dõi tìm xem kết cục của họ ra sao nhưng chưa thấy, do vậy hơi có phần gấp khúc. Tác giả đã đề cập đến khá nhiều mảng đời nên do vậy chưa thực sự đi sâu, hay đây cũng là ý của tác giả, như anh đã đặt tên cho cuốn tiểu thuyết của mình AO BÈO GỢN SÓNG, mỗi mảnh đời như một làn sóng nước gợn lên lăn tăn mỗi khi có gió mùa thổi tới. Nhưng dẫu sao đây là một tác phẩm khá thành công về đề tài nông thôn.
Paris 17/02/2010
Hiêu Constant
letrungtiet | 02 February, 2010 23:47
TIN MỚI
Ngày 2-2-2010, Ban Liên lạc Hội viên các Nhà văn Hà Nội - Khu vực Hà Đông, đã tổ chức buổi gặp mặt tất niên tại tư gia của nhà thơ Trần Hồng Tiến - 388B Đường Quang Trung, Hà Đông, Hà Nội.
Sau lời khai mạc và đánh giá tóm tắt những hoạt động của Hội do Nhà văn Lê Trung Tiết, Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Hà Nội, Trưởng ban Liên lạc trình bày là việc trao quà tết của Ban Liên lạc tới các nhà văn hội viên.
Buổi gặp mặt, đọc thơ, tặng thơ, trao đổi tâm tư nguyện vọng, hoàn cảnh gia đình đã làm ấm tình đồng nghiệp và có tính nhân văn sâu sắc. Cuối cùng là bữa tiệc chúc mừng gặp mặt tất niên của các nhà văn.
CÁC NHÀ VĂN THAM GIA BUỔI GẶP MẶT NÀY:
Lê Ngọc Bảo; Quang Chính; Trần Phúc Dương; Đỗ Hồng Hà; Lê Huy Hoà; Đắc Hữu; Nguyễn Khắc Kình; Nguyễn Hữu Kỳ; Nguyễn Đắc Lập; Văn Lừng; Nguyễn Thị Mai; Hoài Nguyên; Nguyễn Đình Quảng; Phạm Thanh Quy; Bùi Minh Tân; Nguyễn Minh Thắng; Quý Tháp; Trần Hồng Tiến; Lê Trung Tiết; Nguyễn Văn Trang; Trịnh Văn Túc; Thanh Ứng; Nguyễn Văn; Tô Thi Vân.
TRÍCH BÁO CÁO CỦA BAN LIÊN LẠC HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI
KHU VỰC HÀ ĐÔNG
Kể từ khi hội nhập giữa Hội Nhà văn Hà Nội và Chi hội Văn học Hội VHNT Hà Tây, Ban Chấp hành Hội Nhà văn Hà Nội đã làm được một việc rất quan trọng đó là tổ chức chuyến đi sáng tác và thâm nhập thực tế tại Ninh Bình. Thành phần gồm toàn bộ các nhà văn thuộc Hà Tây cũ và các thành viên của các Hội đồng chuyên môn Hội Nhà văn Hà Nội. Việc này minh chứng sự quan tâm, trân trọng của Ban Chấp hành Hội Nhà văn Hà Nội đối với các nhà văn Hà Tây cũ.
Việc làm được tiếp theo là vừa qua các nhà văn khu vực Hà Đông đã tự nguyện sinh hoạt cùng nhau để nâng cao nghiệp vụ, quan tâm giúp đỡ thăm hỏi nhau trong đời sống thường nhật. Cụ thể là chúng ta đã tổ chức thành công chuyến đi thực tế tại Kim Bôi, trong đó có cả nhà thơ Tổng Biên tập Báo Người Hà Nội, uỷ viên Ban Chấp hành Hội, Bùi Việt Mỹ tham gia. Đặc biệt là nhà thơ Bằng Việt, nhà văn Hồ Anh Thái, nhà văn Phạm Xuân Nguyên rất ủng hộ việc làm của Ban Liên lạc các nhà văn Hà Nội khu vực Hà Đông.
Vừa qua Ban Liên lạc có sáng kiến cho những hoạt động mới để các nhà văn chúng ta gắn bó với nhau hơn. Đó là ngày hôm nay chúng ta tổ chức buổi gặp mặt tất niên. Đã gặp mặt tất niên thì phải có nội dung, có chương trình có tính nhân văn, tôi nẩy ra ý định có một món quà rất nhỏ nhưng ý nghĩa thật lớn "của một đồng, công một nén". Đó là đặt in một tờ lịch có dòng chữ Ban Liên lạc các Nhà văn Hà Nội khu vực Hà Đông kính biếu.
Thông báo những thay đổi vừa qua của Hội chúng ta:
- Nhà Thơ Thế Mạc đã qua đời vào những ngày cuối cùng của năm 2009.
- Hà Tây cũ của chúng ta có 2 tác giả được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là Nhà thơ Lê Huy Hoà và Nhà văn Đỗ Doãn Quát. Hội Nhà văn Việt Nam sẽ tổ chức Lễ kết nạp và trao giải thưởng văn học vào ngày 5-2-2010.
Sau cuộc gặp gỡ này chúng ta sẽ nghỉ ăn tết, tạm ngừng mọi hoạt động văn học. Khoảng trung tuần tháng giêng đến trung tuần tháng hai âm lịch BLL chúng tôi sẽ bàn bạc và tổ chức chuyến đi thực tế tại một tỉnh nào đó thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng. Chúng tôi sẽ thông báo tới các nhà văn sau.
Cuối cùng thay mặt Ban Liên lạc, tôi chúc các nhà văn năm mới dồi dào sức khoẻ và thành đạt.
letrungtiet | 28 January, 2010 21:06
THÔNG BÁO CỦA BAN LIÊN LẠC CÁC NHÀ VĂN HÀ NỘI
KHU VỰC HÀ ĐÔNG
Kính gửi: Các nhà văn Hà Nội đã đăng ký tham gia sinh hoạt tại Khu vực Hà Đông.
Ban Liên lạc các nhà văn Hà Nội-khu vực Hà Đông, trân trọng kính mời các nhà văn về dự buổi gặp mặt tất niên, nhận báo biếu và nhận quà tết của Ban Liên lạc. Thời gian 10h sáng thứ Ba, ngày 2-2-2010, Địa điểm tại 388B, đường Quang Trung - Hà Đông - Hà Nội.
Mong các nhà văn đến dự đông đủ.
BAN LIÊN LẠC
letrungtiet | 05 January, 2010 22:43
CỔ TÍCH MỘT BỨC TRANH
Truyện ngắn của Lê Trung Tiết
Tôi đến nhà một người quen trên con hẻm nhỏ mới xây dựng ở ngoại thành. Vô tình tôi nhìn thấy một bức tranh thiếu nữ khoả thân. Người thiếu nữ trong tranh có khuôn mặt đẹp, nhưng hành động lại ngượng ngùng và lén lút như sợ người khác nhìn thấy cơ thể mình. Nói như thế có vẻ phi lý, đã là khoả thân làm mẫu cho người khác vẽ là dũng cảm lắm, làm gì có chuyện giấu giếm e dè. Nhìn vào bức tranh thì sự thật đúng là như thế, nó không giống với những bức tranh tôi đã nhìn thấy trên các tạp chí hay tranh ảnh. Mà đặc biệt chỗ khoang eo, nơi có đường cong tinh tế nhất thì tác giả lại che kín bởi những vòng vải trắng. Chủ nhà cho biết, bức tranh này ông đã mua của một ông già bán than tổ ong, ngày nào ông ấy cũng đẩy xích lô qua phố này. Đó là một người không có con, hai vợ chồng già thuê một phòng trọ ở giữa bãi nổi sông Hồng để đóng than kiếm sống hàng ngày. Nghe ông ta nói bức tranh này là kỷ vật cuối cùng về đời quân ngũ của ông ấy. Tôi bàng hoàng khi nhớ về những đồng đội của tôi.
Ngày ấy, chúng tôi cùng được triệu tập học lớp điều khiển máy qui hàng thông tin, đó là loại máy phát ra tín hiệu cao tần để dẫn đường cho máy bay lên xuống theo đúng hàng, đúng tuyến ở các sân bay. Giải nghĩa là thế nhưng chúng tôi cứ nôm na cho dễ hiểu là máy dẫn đường xa. Học xong, bốn thằng chúng tôi là Thiết, Tường, Châu và tôi được điều về Trung đoàn Sao Đỏ 921. Vinh dự lắm đối với chúng tôi là được về Trung đoàn Anh hùng mà cánh lính không quân quen gọi là Trung đoàn ông Luyện. Biết rõ trung tá Đào Đình Luyện làm Trung đoàn trưởng nhưng lính kỹ thuật như chúng tôi có được gặp ông bao giờ đâu.
Nơi đóng quân của chúng tôi là Đài K2 - Đài dẫn đường xa của sân bay Nội Bài thuộc huyện Kim Anh tỉnh Phúc Yên. Cả bốn thằng chúng tôi đều từ các đơn vị lẻ của không quân, nhờ có học vấn và năng khiếu tý ty nên được chọn đi học lớp kỹ thuật, khi học xong thì tuổi cũng đã khơ khớ. Thằng nào cũng đã có vợ, đều do sự sắp đặt của bố mẹ ở quê. Tôi thì tháng tám năm 1970 về phép hôm trước, hôm sau hỏi, hôm sau nữa cưới. Bố mẹ còn khoẻ mà cứ như là cưới chạy tang. Mẹ tôi bảo "Phải tát cạn bốc lấy, không có thì biết bao giờ anh mới về". Trời nắng như thiêu như đốt mà đón dâu giữa trưa có khổ không. Đêm tân hôn chui vào buồng cưới xây kín và bé tý như cái hòm chân, vợ chồng mỗi đứa một cái quạt nan cứ phành phạch cả đêm.
Tưởng là mạ già ruộng ngấu ai ngờ, cả bốn chưa thằng nào có lấy nổi một đứa con. Duy chỉ có anh Lộc - Trưởng đài là không bị sóng cao tần ăn mất đường con cái, vợ anh đã sinh được đứa con gái nhưng nó không thành người vì thiếu tháng. Trước khi được bổ sung về Đài dẫn đường xa này chúng tôi đều xác định rõ, sóng điện cao tần sẽ không cho chúng tôi có cơ hội làm bố khi còn trong quân ngũ. Biết rằng thế nhưng chúng tôi vẫn sẵn sàng, phần vì vinh dự lắm mới được làm lính ông Luyện, phần vì trách nhiệm của thanh niên thời chiến, cả phần vì muốn thử thách người vợ hậu phương, khi nao thống nhất đất nước sẽ đẻ bù cũng chưa muộn.
Dưới sự chỉ huy của anh Lộc, chúng tôi đều hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc nhưng cá tính thì mỗi người một nết. Thiết thích lắp đài điện, tăng âm đánh đàn nên bắt thân với cô Nga bán hàng điện máy của huyện. Hồi ấy pin con thỏ hiếm lắm phải có giấy phân phối mới được mua, thế mà Nga cứ tuần nào cũng dúi cho Thiết đôi pin. Phụ tùng như bóng bán dẫn, déc, kháng, tụ, Thiết cần gì là Nga có. Hai người hí hoáy với nhau cả buổi tối trong phòng đến "tiếng thơ" Nga mới chịu về. Còn Châu thì thích thuốc lá và chè nên cứ tối nào nghỉ trực lại nhảy phốc lên chiếc xe đạp thống nhất, cắm đầu cắm cổ đạp lên khu tập thể bách hoá huyện chui vào phòng cô Bảy tán hễu. Vì sắc cô Bảy quá khiêm tốn nên chẳng mấy khi có khách đàn ông, hơn nữa trong tủ cô Bảy lúc nào cũng có sẵn thuốc lá, chè, và kẹo lạc để nhử Châu cắn câu. Biết chúng tôi đều đã có vợ nhưng các cô vẫn muốn chơi thân, trai thời chiến ở lại hậu phương mà, hiếm vô cùng. Nhiều cô còn bóng gió xa gần "các anh nên thả cỏ các chị ấy ở quê cho nhà đỡ quạnh vắng - cá vào ao ta, ta được - chẳng có làm sao cả. Còn các anh điếc đặc thì vô tư đi ...hí hí".
Riêng Tường thì cả đài ai cũng phải bái phục cái tính máu gái của cậu ta. Trưa nào Tường cũng trèo lên đài quan sát, quay ống kính kiểm soát bầu trời OTK về phía hồ Đồng Sương của làng Trinh Tiết. Nơi ấy có trảng cỏ ven hồ như tấm thảm nhung xanh là điểm tắm "tiên" của các thiếu nữ làng chưa một lần vương vấn hương vị đàn ông.
Có lần anh Lộc đã nhắc nhở:
- Cậu Tường là nghiện xem hoa thưởng nguyệt lắm đấy nhé. Kính OTK là kính nghiêp vụ chứ không phải để quan sát nghiên cứu những chỗ người ta đã giấu kín.
Tường cự lại:
- Anh hiểu nhầm em rồi.
- Nhầm cái con khỉ, cùng là đàn ông cả tớ biết, mắt con trai, tai con gái mà, đã đành là thông cảm, nhưng nó cũng chỉ một vừa hai phải thôi, ai lại trưa nào cũng thế, bố thằng nào mà chịu được.
Tường gãi gãi đầu cười gượng...
Một lần vô tình tôi trèo lên đài quan sát, thấy Tường đang hí húi vẽ hình một thiếu nữ khoả thân, chốc chốc Tường lại dán mắt vào ống kính rồi lại lúi húi vẽ. À thì ra là Tường mượn hình mẫu để vẽ chứ không phải cậu ta máu me như tôi tưởng.
Bỗng Tường khẽ reo lên vì sung sướng: "Trời ơi, đúng là một toà thiên nhiên tuyệt diệu, lúc này vẽ mới đúng là phút xuất thần".
Như kích thích sự tò mò, tôi vội ghé mắt vào ống kính... "Trời ơi là trời". Trước mắt tôi là một cô gái chừng mười tám hai mươi gì đấy, không có một mảnh vải trên người. Cô ta đang nghiêng đầu nhổ lông nách, hai bầu ngực căng tròn nhoài ra như thách thức đôi mắt của tôi. Tường lấy tay khẽ dí cho ống kính chúi xuống một chút.
- Đây này, chỗ này mới tuyệt vời này. Phương vị ba độ đông, độ cao không phảy tám mét. Ông thấy không? đẹp như một bông hoa đồng nội.
Tôi ngượng ngùng rời ống kính nhìn vào mắt Tường.
- Đẹp như bông hoa đồng nội, ông chỉ khéo tưởng tượng chứ tôi nhìn ghớm chết đi được.
- Ghớm chết. Thưa ông, trời chỉ ban loài hoa quyến rũ ấy cho phái đẹp thôi ông ạ. Chỉ có những ông ra vẻ ta đây mới có kiểu nói như ông thôi. Thích bỏ mẹ lại cứ... Ông nhìn kỹ lại cơ thể cô ấy xem, các đường cong eo tinh tế đến thế là cùng chứ còn thế nào hơn nữa nào.
Như được Tường đánh thức bản năng của đàn ông. Tôi lại úp mặt vào ống kính thì đúng lúc cô ấy nhìn thẳng về phía đài quan sát của chúng tôi. Tôi chột dạ vì khuôn mặt của cô ấy dính sát vào mắt tôi, cảm tưởng có cả hơi nóng phả ra từ gương mặt cô ấy. Hình như cô ấy đã phát hiện ra tôi đang nhìn trộm thân thể cô ấy. Tôi vội lấy tay bịt ống kính và nhìn về phía hồ Đồng Sương. Ồ hay thật, cô ấy chỉ bé xíu như bắp ngô và lung linh mờ ảo trong màn hơi nước bốc lên từ cánh đồng. Tôi thầm nghĩ, nếu không có ống kính thì làm sao nhận biết được đây là người hay con chồn, con chuột...
- Bức tranh của cậu còn thiếu một chi tiết hết sức quan trọng - tôi bảo với Tường.
- Biết rồi. Nốt ruồi son ở gần đỉnh non tươi bên phải chứ gì. Đây là tâm điểm của tác phẩm này đấy ông ạ. Tôi định đặt tên cho bức tranh là "Mặt trời lên trên đỉnh núi" ông thấy có được không?
- Được, được...
Tôi gật đầu tán thưởng thì tiếng chuông điện thoại dứt chúng tôi ra khỏi nhau. Giọng the thé của anh Lộc đang choang choác trong máy "Tất cả về vị trí, dẫn đường xuống cho ba chiếc T16". Tường quay vội ống kính về hướng đường qui hàng. Tôi lao ngay xuống hầm trực máy phát sóng. Trong tôi dâng lên niềm tự hào về chiến công vừa qua của các chiến sỹ không quân quyết tử của ta.
Cách đây chỉ mấy ngày thôi, chín chiến sỹ của ta đã đứng thề trước đại diện Bộ Tổng Tham mưu "Thề quyết tử cho tổ quốc quyết sinh". Vũ khí của các anh là ba chiếc máy bay cường kích T16 cất cánh từ sân bay Nội Bài sang đánh bom xuống đỉnh Loong Chẹng thuộc cánh đồng chum Xiêng Khoảng. Theo tin tình báo của Bộ Tổng tham mưu, đỉnh núi này là cứ điểm tập trung số quân rất lớn của phỉ Vàng Pao đang khao quân để chuẩn bị tấn công quân Giải phóng Lào. Tuy rằng tốc độ máy bay cường kích T16 của ta chỉ đạt bảy trăm năm mươi ki lô mét một giờ, mà tốc độ máy bay tiêm kích F4H của địch lên tới ba nghìn ki lô mét một giờ, nhưng ta lại có lợi thế luồn được sau các đỉnh núi. Cái yếu tố dẫn đến thành công là bất ngờ và bí mật. Khi máy bay của ta bay trên đầu địch, bọn phỉ còn giơ áo, giơ mũ vẫy chào. Chỉ tích tắc sau những mái tôn trên đỉnh Loong Chẹng đã bay như bươm bướm trên bầu trời, khói lửa mù trời mù đất. Xong việc, máy bay của ta quay về thì địch mới phát hiện ra. Chúng cất cánh từ sân bay Cò Rạt (Thái Lan) đuổi theo nhưng không kịp vì máy bay của ta đã xuống sân bay Thọ Xuân (Thanh Hoá) rồi. Kết quả trận ấy ta toàn thắng.
Sau lần Tường nghỉ phép trở lại đơn vị. Tường đưa cả vợ lên theo. Anh Lộc cho gọi tất cả bốn chúng tôi để họp bàn việc riêng của Tường. Trước mặt chúng tôi, rõ ràng là bức tranh Tường vẽ hôm trước mà tôi đã được xem. Nhưng cô gái trong tranh lại quấn rất nhiều vòng vải ở bụng và buộc rất kỹ. Bức tranh có tên "Mầm sống mong manh". Thực sự chúng tôi chưa thể hiểu nổi nội dung cuộc họp và anh Lộc sẽ kỷ luật Tường như thế nào về bức tranh khoả thân ấy. Không khí cuộc họp trầm và nặng nề ghê gớm. Mọi người hết nhìn nhau rồi lại nhìn vào bức tranh, lại nhìn Tường. Anh Lộc giục: "Nào, cậu Tường có nguyện vọng gì thì cứ đề đạt đi xem nào".
Dù mặt có hơi biến sắc nhưng Tường vẫn đứng dậy, tiến về phía bức tranh. "Thưa các đồng chí, đây là hình ảnh thật của một cô gái có tên là Tân ở làng Trinh Tiết. Vì quá cả tin và yêu đương quá chớn nên đã phải gánh hậu quả như thế này đây - Tường chỉ vào những lớp vải quấn ở bụng - Cô ấy đang nén thai đấy các đồng chí ạ. Gã thanh niên là tác giả của cái thai đã bỏ mặc cô ấy rồi cao chạy xa bay. Tôi nghĩ cái mầm sống đang lớn dần giờ bị bó lại không cho phát triển, chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, đứa bé sẽ thành quả trứng ung trong bụng cô gái. Vợ chồng tôi biết rằng mình không thể có con nên đã thống nhất tìm gặp cô ấy, xin cô ấy giữ lại cái thai, tôi xin nhận trách nhiệm là bố đứa bé, đề nghị các đồng chí ủng hộ vợ chồng tôi"...
Cuộc họp tan, chúng tôi ai cũng ngỡ ngàng về quyết định táo bạo của Tường.
Sau ngày vợ Tường trở về quê. Tường phải chấp nhận những ánh mắt coi thường khinh miệt của những người dân làng Trinh Tiết. Tường dành dụm đường, sữa, tem gạo, phiếu thực phẩm để lên cửa hàng huyện mua về bồi dưỡng cho Tân. Khi thì cân đường, hộp sữa, vài ba lạng thịt, mấy bìa đậu phụ. Còn Tân vì ngượng với dân làng, đặc biệt là làm xấu cả tên làng Trinh Tiết nên không dám ngó mặt ra khỏi ngõ, muốn mua cái gì, mẹ Tân đều phải cắp nón ra đường. Nhiều đêm khuya Tường mang đèn pin đi soi cá, kiếm được con cá nào Tường mang về đơn vị mổ ngay rồi ướp muối, sáng sớm lại xách vào cho Tân. Nhờ có sự chăm sóc và động viên của Tường nên Tân đã từ bỏ ý định phá thai và trả thù kẻ bạc tình. Ranh giới giữa Tường, Tân và bà Tộ (mẹ Tân) được xích lại gần hơn. Có những đêm, Tường xách cá về thẳng nhà bà Tộ để nấu cháo cho mẹ và Tân ăn. Bà Tộ đã không giữ được nổi cảm động, bà bảo:
- Ngủ lại đây đi con à. Cái Tân đêm nào nó cũng khóc và thương cho con lắm. Nó chỉ muốn có con ở lại bên cạnh nó thôi.
Tường đỏ mặt:
- Dạ, con cũng biết thế, nhưng kỷ luật của đơn vị không cho phép đâu bầm ạ.
- Anh Tường ơi, vào em bảo cái này.
Tiếng gọi của Tân từ trong buồng mát nhẹ như làn gió biển. Bà Tộ giục:
- Kìa cái Tân nó gọi con đấy.
Ngập ngừng mãi Tường mới dám vào buồng. Tân đang ngồi ủ rũ giữa giường, thấy Tường vào, cô tươi tỉnh hẳn, rồi kéo cái gối dịch vào cho Tường ngồi.
- Anh Tường ơi, anh có thương em không?
- Sao em lại hỏi anh thế? Có thương em thì anh mới chấp nhận sự thật để vào chăm sóc em chứ.
- Thế có nghĩa là anh chỉ cần có đứa con thôi sao. Còn em...?
- Em nghĩ thế là sai rồi, có em thì mới có con, lẽ nào anh lại vô tình với em được chứ.
- Nhưng em thấy anh cứ xa lánh em thế nào ấy, chẳng có tình cảm gì cả.
Nói xong Tân ghé đầu vào vai Tường, Tường thấy lòng mình xao xuyến lạ vì hơi thở thơm mùi con gái. Da thịt này, mái tóc này, hàm răng này, đặc biệt là đôi mắt, thứ gì trên cơ thể Tân cũng tươi non mơn mởn và khác lạ. Tự nhiên Tân nhăn mặt nhưng miệng lại tươi duyên đến lạ lùng, đôi mắt Tân nhìn xuống bụng và ánh lên niềm vui:
- Đấy đấy, con nó đang đạp đấy anh ạ - Tân vén áo lên, hình như cái chân của đứa bé đang làm cho bụng Tân phập phồng - anh có thấy không - Tân cầm bàn tay của Tường đặt vào bụng.
Như được động viên sự liều lĩnh, Tường cúi xuống ghé tai áp vào bụng Tân nghe ngóng. Tường nghe rõ cả tiếng trượt chân của đứa trẻ như tiếng nhảy của con ếch trong túi vải. Tường reo lên sung sướng.
- Nó đạp khoẻ lắm em ạ.
Tân thấy sung sướng và hạnh phúc vô cùng. Đã bao nhiêu tháng qua, Tân thấy cô đơn, đau khổ trước sự ghẻ lạnh của mọi người. Tân áp chặt má Tường vào bụng và di đi di lại. Lúc này Tường thấy máu trong cơ thể mình chạy nhanh hơn và hình như hơi run. Sức mạnh nội lực của một cơ thể đàn ông cường tráng bắt đầu trỗi dậy trước sự đồng tình của đàn bà. Người ta bảo "Thứ nhất bụ sữa, thứ nhì chửa non" quả không sai, ít nhất là đối với Tân lúc này. Bất chợt Tường giật mình, bên tai văng vẳng tiếng nói của ai đấy. "Đừng làm như thế Tường ạ. Mày có biết rằng vợ mày đã tuyệt đối tin tưởng ở mày không"...
Chiến tranh leo thang ra miền bắc của Mỹ ngày càng ác liệt. Đài trực dẫn đường K2 luôn ở tình trạng báo động. Nếu như ở các trạm ra đa như pháo cao xạ, tên lửa đất đối không, khi bị máy bay địch bắn tên lửa có điều khiển thì ra đa có thể cắt sóng là máy bay địch không bắn trúng mục tiêu. Riêng đài dẫn đường K2 không thể ngưng hoạt động dù chỉ là một giây. Chính vì thế đài K2 rất dễ là điểm đến của bom đạn địch.
Non trưa hôm ấy, trời trong xanh như ngọc, lác lác trên thảm trời trong những sợi mây trắng mỏng tang chập chờn bay như khói thuốc. Bỗng trên thảm trời trong xanh vời vợi ấy xuất hiện thêm những sợi mây óng ánh bay loang loáng trên đầu. Anh Lộc ra lệnh: "Địch đã thả giấy bạc làm nhiễu ra đa của ta để thực hiện ý đồ không kích, tất cả các đồng chí về vị trí chiến đấu". Tôi lao vội vào hầm trực máy, tia quét gần như không tác dụng trên màn hình lốm đốm trắng như chiếc bánh đa vừng, nhiễu tích cực và nhiễu tiêu cực loạn xạ. Đúng như dự đoán của anh Lộc, chỉ trong tích tắc tiếng nổ đã rền vang và kéo dài như đổ trời sụt đất. Tiếng chửi tục của Châu rít lên trong máy điện thoại "Chết mẹ mày chưa. Chết mẹ mày chưa". Tôi ngó đầu ra khỏi hầm thì rõ ràng một chiếc A4 của địch bị lửa bao bọc đang lảo đảo rơi xuống. Chẳng rõ có phải chính nó vừa làm một quệt bom dài hay không ?
Sau trận bom của địch ném xuống làng Trinh Tiết. Tôi cứ bị ám ảnh mãi hình ảnh ba cô gái làng bị sát hại trên thảm cỏ xanh mướt mát ngay sát hồ Đồng Sương. Khi ấy kẻng báo yên vừa dứt, Tường cuống cuồng bàn giao ca trực máy cho Thiết rồi lao vun vút về làng Trinh Tiết. Tôi chạy tắt cánh đồng vào làng để cứu thương. Chẳng biết linh tính thế nào, tôi nhìn ra phía hồ, thấy bóng mấy người vẫn nằm sát dưới trảng cỏ, quanh quất đâu đấy là mấy bộ quần áo hay vải vóc gì đó treo ở những lùm cây lúp xúp ven hồ. Tôi chạy gần đến nơi thì - chao ôi - một cảnh tượng đến rùng rợn. Ba cô gái máu me loã lợi, thân người trắng hêu hểu, nằm kề bên nhau trên trảng cỏ. Nói thật, mọi khi tôi bình tĩnh lắm, nhưng lúc này chân tay tôi cứ run bắn lên, trống ngực díu lại không thành nhịp, đầu gối tôi khuỵu xuống bên những cây dại ven hồ. Nghĩ quanh nghĩ quẩn tôi dứt khoát túm lấy ngọn cây lúc lác cố bật dậy, chỉ mong có một người nào đó đang ở gần mà gọi. Rõ ràng các cô đã chết, có cô hai tay vẫn còn giữ cái khăn tắm bưng kín phía bụng dưới. Vẫn còn nghi ngờ, tôi cứ hỏi vu vơ thật to, may đâu... "Có em nào còn sống không đấy?" không có ai trả lời, tôi hét thật to "Có cô nào còn sống không?". Vẫn không. Chỉ có tiếng nhại lại từ mặt nước vọng lên âm âm u u. Đang loay hoay không biết phải làm thế nào thì "A đây rồi" may quá, tôi vớ được cái vỏ chăn trong đống quần áo có in dày đặc hoa hồng định trùm lên thân thể các cô rồi chạy về làng báo tin. Nhưng "Trời ơi" một hình ảnh còn hãi hùng hơn. Cô gái nằm nghiêng quay mặt về phía làng Trinh Tiết bị mảnh bom lia đứt một bên bầu ngực chỉ còn dính lại một đoạn da là rời hẳn. Bầu ngực ấy bị lật xuống treo lủng liểng trên những ngọn cỏ. Tôi đành liều cố lật em nằm ở tư thế thanh thản rồi úp trả lại dáng vóc nguyên sơ con gái cho em. Trùm chăn xong, tôi thấy mình có tội. Tôi lẩm nhẩm một mình "Hãy tha thứ cho anh em nhé, anh đặt tay vào vật báu thiêng liêng của em vì anh không còn cách nào lựa chọn, anh không muốn mọi người nhìn thấy em với hình hài quá thương tâm như vậy. Hãy tha thứ cho anh. Hãy tha thứ cho anh. Em nhé"...
Mấy ngày sau, Tường mang về một mảnh đuya ra bằng xác chiếc máy bay. Cậu ta hì hũi mài, rũa, gò được cái ống dài như bóng tuýp sáu mươi phân, có nắp đạy hẳn hoi. Tường định mang những bức tranh đang vẽ dở, trong đó có cả bức tranh cô gái có nốt ruồi son và những vòng vải quấn bụng cất đi. Cậu ta cuộn vào rồi lại mở ra ngắm nghía. Chợt vai Tường rung lên từng đợt, từng đợt. Những bức tranh nhoè dần trong mắt Tường. Tôi nhìn Tường, thương cậu ấy vô cùng. Tại sao cả những mảnh sắt vô tri vô giác kia cũng không muốn cho Tường làm bố. Cổ họng tôi tắc nghẹn không nói nổi một câu gì, rồi sống mũi tôi tưng tức và nước mắt cứ thế, cứ thế trào ra không làm sao kìm lại được...
Ngày mai, nhất khoát ngày mai, dù khó khăn đến mấy, tôi sẽ tìm gặp được Tường. Gần bốn mươi năm rồi chúng tôi không gặp lại nhau. Chỉ có điều tôi tự hào vì con cái đã phương trưởng thành đạt bao nhiêu, thì lại thấy ái ngại về Tường bấy nhiêu. Hơn sáu mươi tuổi mà vẫn phải lam lũ vất vả thế hả Tường.
LTT
letrungtiet | 30 November, 2009 11:37

NHÀ THỜ ĐÁ PHÁT DIỆM
NHÀ VĂN HỒ ANH THÁI VÀ NHÀ VĂN LÊ TRUNG TIẾT
TIN HOẠT ĐỘNG
CỦA HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI
Ngày 27-28 /11/2009, Hội Nhà văn Hà Nội đã tổ chức cho một số hội viên đi thăm quan và lấy tư liệu sáng tác tại tỉnh Ninh Bình.
Đoàn gồm có: Nhà văn Hồ Anh Thái - Chủ tịch Hội (Trưởng đoàn); Nhà văn Lê Trung Tiết, Uỷ viên BCH Hội. Các thành viên thuộc các Hội đồng chuyên môn của Hội: Nhà văn Trần Hữu Tòng; Nhà văn Nguyễn Thị Minh Thái; Nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn; Nhà Thơ Hoàng Việt Hằng; Nhà văn Dịch giả Trần Đình Hiến; Nhà văn Dịch giả Yên Ba; Nhà thơ Tô Thi Vân; Nhà thơ Thanh Ứng; và Nhà thơ Bế Kim Loan cùng 20 hội viên Hội Nhà văn Hà Nội.
Trong 2 ngày Đoàn đã đến thăm Khu Di tích Tam Cốc Bích Động, Nhà thờ đá Phát Diệm và giao lưu văn hoá với các nghệ nhân hát chèo cổ, chầu văn, ca trù tại làng việt cổ.
Chuyến đi của đoàn được văn phòng Hội bố trí nơi ăn, ngủ, nghỉ hợp lý, sắp xếp thời gian hoạt động thích hợp và hiệu quả.
Các Nhà văn Hà Nội đã đạt được kết quả như mong muốn.
letrungtiet | 24 November, 2009 18:12
HỒN THƠ
NẶNG LÒNG NHÂN THẾ
Nhà văn Phạm Ngọc Chiểu
Buổi sáng ngày khai mạc Trại sáng tác Văn học tỉnh Hà Sơn Bình mùa thu 1978, phòng làm việc chung của phòng Sáng tác Thơ - Văn - Nhạc - Họa thật vui vẻ, ấm cúng tình người cầm bút. Anh em tác giả từ Hòa Bình - Sông Đà về, từ Mỹ Đức, Ứng Hòa lên, gặp anh em vùng Sơn Tây, Ba Vì, Thanh Oai, Hà Đông... tay bắt mặt mừng, "Ô" "A" vồn vã. Nhà văn Phượng Vũ với vai chủ trại, thường trực nụ cười đón tiếp, nhưng chốc chốc lại nhìn đồng hồ và lia mắt ra phía cổng cơ quan. Anh đang sốt ruột chờ các vị khách từ Hà Nội. Phải hơn 9h, các nhà văn, nhà thơ Nguyễn Thành Long, Đào Vũ, Phạm Hổ thay mặt Hội Nhà văn và báo Văn nghệ mới hiện diện. Sau phút chào hỏi, trong không khí thân tình, không đợi phải lên hội trường, nhà văn Phượng Vũ tranh thủ giới thiệu với các nhà văn Trung ương những cây bút Hà Sơn Bình đang có mặt. Bắt đầu từ nhóm tác giả Hòa Bình. Sau câu bút thơ kỳ cựu Đào Khang Hải, đến hai tác giả dân tộc Mường đang nổi là Quách Ngọc Thiên (thơ) và Hà Trung Nghĩa (văn xuôi), anh Vũ chỉ người thú tư, giọng nhiệt thành:
Mọi ánh mắt cùng dồn vào Thanh Ứng. Còn anh, nhà giáo từ trường Sư phạm 10+3 Hòa Bình, vẫn ngồi khiêm nhường ở hàng ghế sau, mặt đang ửng lên trước câu hỏi bất chợt của nhà thơ Phạm Hổ và ánh mắt tò mò của các bạn viết.
Nhà văn Đào Vũ tươi cười:
Mọi người cùng "Ồ!", mừng cho Thanh Ứng khiến mặt anh càng ửng hơn. Nhà thơ Phạm Hổ đành thông báo:
Tiếng vỗ tay, tiếng xuýt xoa ran cả phòng. Thanh Ứng lúng túng bắt tay cảm ơn thịnh tình của mấy anh em tác giả ngồi kề. Trước niềm vui chân tình của anh em viết trẻ địa phương, nhà thơ Phạm Hổ nói thêm về bài thơ được giải của Thanh Ứng, ông bảo, cái hay của bài thơ là qua diễn tả tâm trạng phấp phỏng, âu lo đã nói lên được tấm lòng của người thày giáo đối với các em học trò nghèo của mình. Và, cái đắc địa của bài là tác giả chọn được một tứ thơ độc đáo: sự lo lắng của người thày khi tháng ba đến với lớp học. Là người Việt Nam, không ai không thấu hiểu cụm từ "tháng ba giáp hạt". Ông bà ta cũng đã để lại câu tục ngữ: "Tháng tám chưa qua, tháng ba đã tới" để nhắc nhở cháu con. Đấy là thời điểm đói kém, nhất là đối với bà con nông dân đã thiếu ăn, đã đói thì con trẻ học hành làm sao? Thanh Ứng đã bắt trúng cái tứ này và triển khai thành công các ý thơ theo xúc cảm chân thực của mình.
Năm học đi qua tháng ba
Tháng ba những ngày giáp hạt
...
Ôi! những tháng ba
Như đường đến trường có con suối lũ
Tôi muốn làm những nhịp cầu nho nhỏ
Đón em đi trên chặng đường xa...
Tôi muốn ngày nào lớp cũng đông vui
Dẫu có tháng ba còn đi qua năm học
Một khoảng trống trên bàn có em vắng mặt
Là thành bao khoảng trống ở trong tôi
Bất ngờ nhà thơ họ Phạm đọc cả một đoạn thơ dài của "Tháng ba đến lớp". Giọng Huế nhỏ nhẹ, nhiều luyến âm, lại đọc có điểm nhấn của nhà thơ gây xúc động cho người nghe, nhất là khi ông đọc thêm một lần hai thơ kết bài: "Một khoảng trống trên bàn có em vắng mặt / Là thành bao khoảng trống ở trong tôi".
Phải nói, do sự hợp tỉnh nên giới cầm bút của hai vùng miền Hòa Bình và Hà Tây đã có mấy dịp hội ngộ, nhưng chưa tác giả nào có được sự "ra mắt" anh em bạn viết ấn tượng như sự hiện diện của Thanh Ứng qua "Tháng ba đến lớp" vào cái sáng mùa thu 1978 đấy. Tôi biết Thanh Ứng từ 6 năm trước đó. Chính xác là từ mùa hè 1972. Cũng là do cái duyên văn chương đưa dẫn. Hồi ấy, tôi đang ở đơn vị thanh niên xung phong chống Mỹ N111 mở đường giữa rừng Đà Bắc tỉnh Hòa Bình thì được lệnh cùng đơn vị quay ra thị xã Hòa Bình để tham gia mở đường phục vụ công trình thủy điện sông Đà. Thực ra, đơn vị N111 hoàn thành nhiệm vụ Thanh niên xung phong chống Mỹ đã hơn 1 năm, đang chuyển sang hoạt động của một doanh nghiệp thi công cầu đường lâm nghiệp. Và tôi, dù nhận quyết định biên chế là một giáo viên cấp 2 toàn cấp hưởng lương 45 đồng/tháng, do suốt 3 năm Thanh niên xung phong tôi được giao giảng dạy Bổ túc cấp 2 của đơn vị, nhưng đành phải chấp nhận là một công nhân mở đường, vì công ty không còn chế độ mở lớp học cho tôi giảng dạy nữa. Nếu tôi từ chối sự điều động sang làm công nhân thì công ty sẽ trả tôi về địa phương (!) vỡ mộng và cay đắng khi hết hạn Thanh niên xung phong không được đi học Đại học như người ta hứa lúc tuyển quân, giờ đến độ làm anh giáo viên cấp 2 như nhận quyết định chuyển biên chế chính thức cũng không được nốt, cắn răng chấp nhận học làm người công nhân mở đường lâm nghiệp, thâm tâm tôi cũng khẳng định: nghiệp văn chương là lối thoát của đường đời mình! Lối thoát này tự tôi đã vạch từ mùa hè năm 1963 khi phải cầm tấm bằng tốt nghiệp cấp 3 quay về quê làm ruộng, không được đi học bên Liên Xô chỉ vì lãnh đạo địa phương chua dòng chữ "Lý lịch rất xấu" vào hồ sơ cá nhân của tôi. Hướng đời đã định, suốt 3 năm làm ruộng ở quê, tôi cặm cụi làm thơ, viết văn đêm đêm dưới ánh đèn dầu, lại tiếp tục cặm cụi công việc đó những năm ở Thanh niên xung phong chống Mỹ. Chính sự kiên định văn chương này đã dẫn tôi đến phòng sáng tác - xuất bản Ty Văn hóa tỉnh Hòa Bình để được gặp Thanh Ứng và đội ngũ anh em làm thơ, viết văn toàn tỉnh vào mùa hè 1972. Hồi ấy, Hòa Bình cách Hà Nội chỉ chưa đến 80 cây số đường ôtô, nhưng con đường 6 mở từ thời Pháp ngoằn nghèo, nhỏ hẹp, gồ ghề, len lách giữa đồng chũng Hà Tây và đồi núi dốc dác của Hòa Bình, đã thế xe khách vừa ít, vừa xấu, thành ra Hòa Bình vẫn là một tỉnh miền núi xa hút, ngại ngùng đối với vùng xuôi. Có lẽ vì vậy mà người miền xuôi lên công tác ở Hòa Bình dễ đến với nhau, dễ gần nhau, và những anh em cầm bút tỉnh Hòa Bình - chủ yếu là người các tỉnh đồng bằng - cũng dễ cảm thông, quý mến nhau. Lần đầu tiên tôi được gặp các anh Đào Khang Hải, Thanh Ứng, Quách Ngọc Thiên, Đinh Đăng Lượng, Nguyễn Khắc Kình, Nguyễn Hoàng Sơn, Lê Thanh Xuân, Hà Trung Nghĩa... tại hội nghị sáng tác của Ty Văn hóa Hòa Bình, được các anh nồng nhiệt tay bắt mặt mừng cũng là do tình cảm đó. Trước hội nghị ít hôm, một sáng Chủ nhật được nghỉ quai búa, nổ mìn thi công con đường công cụ từ bến đò thị xã vào bản Tháu, tôi lang thang chơi quanh thị xã Hòa Bình và bắt gặp khu nhà tranh tre nứa lá treo biển "Ty Văn hóa Hòa Bình" ở gần nghĩa trang chiến dịch Hòa Bình. Chợt nghĩ đến phòng Văn nghệ ở Ty Văn hóa Nam Hà, nơi tôi vẫn gửi những gì đã viết và được in, tôi tò mò tìm hỏi vào phòng chức năng tương tự của tỉnh miền núi này. May sao, người tiếp tôi là anh Nguyễn Công Trứ, biên tập viên chính của phòng, nghe tôi tự giới thiệu, anh vui vẻ bắt tay tôi:
Đúng ngày giờ ghi trong giấy mời, tôi đến Ty Văn hóa và được gặp các anh Đào Khang Hải, Thanh Ứng, Quách Ngọc Thiên... quen rồi thân các ông. Nhất là hai anh Quách Ngọc Thiên và Thanh Ứng gần gũi, thân tình hơn, tuy mỗi người mỗi cách.
Thanh Ứng điềm đạm từ nói năng, đi đứng, cho đến cả những bài thơ anh viết. Một giọng thơ thủ thỉ, trầm ấm. Nhớ bài thơ đầu tiên của Thanh Ứng tôi được đọc là bài "Phố Đúng" đã mang rõ dấu ấn ấy:
Phố chúng tôi
Có những nhà mái nứa
Bên nhau như bạn tâm tình
Có hai hàng nhãn xanh
Che mát trò chơi tuổi nhỏ
...
Cứ thế, Thanh Ứng nhỏ nhẹ kể về phố Đúng, con phố duy nhất bên bờ trái dòng chảy sông Đà, đối diện thị xã Hòa Bình, nơi Thanh Ứng đang giảng dạy bộ môn Văn trường Sư Phạm 10+3 của Tỉnh. Anh kể về con đường cát mịn (đường phố nhưng chỉ là đường cát pha sỏi đá thôi), về cô hàng phố ra bến sông quảy nước, về mùa mưa lũ sông Đà dân phố xuôi bè, vớt củi, về anh bưu điện mang tin chiến trường đến với từng ô cửa, về bom Mỹ giết hại dân phố. Và:
Ông trưởng phố có bộ râu rậm đen
(Không mấy khi được cạo)
Đêm đêm đến từng nhà
Gõ tay vào vì kèo hầm ai chưa chắc chắn
Nhắc bà con cẩn thận lửa đèn
Và cầm loa dõng dạc đọc vài tin:
Chiến thắng hai miền trên báo Đảng!
Không chữ lạ, không vụt sáng câu thơ tài hoa, nhưng phố Đúng hiển hiện qua giọng kể chân thực của Thanh Ứng gây xúc động trong lòng người đọc những ngày đánh Mỹ.
Đọc "Phố Đúng" được ít lâu, tôi có dịp kiểm chứng nhận định của mình về chất người và chất thơ Thanh Ứng. Một hôm, có việc ra thị xã Hòa Bình (sau khi làm xong đường phục vụ công trình thủy điện), đơn vị tôi lại phải quay vào mở đường rừng trong Đà Bắc, giữa tầm chiều, tôi qua đò sang phố Đúng để cuốc bộ về đơn vị. Chợt nhớ Thanh Ứng dạy học trong trường Sư Phạm, ngần ngừ một lúc, tôi quyết định rẽ vào cổng trường, hỏi chỗ ở của thày Thanh Ứng. Người bảo vệ lắc đầu bảo trường không có thày giáo nào tên là Thanh Ứng. Thôi chết, tôi chợt nhớ ra Thanh Ứng là bút danh, tên thật của anh là Phạm Văn Ninh kia. Nghe tôi nói lại, người bảo vệ cười gật và chỉ lối cho tôi. Phải đi qua một vườn chuối mới đến được phòng ở của Thanh Ứng, một căn phòng tre nứa, vách chát toóc - xi, nhỏ gọn, ngăn nắp. Thanh Ứng vồn vã chào đón tôi và một mực giữ riết, không cho tôi đi. Quả thật anh làm tôi cảm động về sự cởi mở chân thành. Thâm tâm tôi vẫn nhớ anh và tôi cùng tốt nghiệp phổ thông năm 1963, nhưng anh đã học xong đại học Sư Phạm và đang dạy trường Sư Phạm của tỉnh, còn tôi chỉ là anh công nhân mở đường giữa rừng sâu. Không biết anh có đọc được chút tự ti trong tôi, nhưng tôi thấy anh vừa pha nước, vừa nhỏ nhẹ, dứt khoát:
•- Ông uống nước đi, rồi ở chơi với tôi. Lúc nữa ăn cơm, ăn thử cơm bếp tập thể trường tôi xem thế nào. A!, mà có rượu nhé. Chai rượu thuốc Ngũ gia bì tôi vừa được bệnh xá nhà trường phát cho. Ăn uống xong rồi nghỉ. Hai thằng nằm chung giường một này trò chuyện và ngủ. Ông quen ngủ chung không?
Thấy anh nhiệt thành thật sự, trời lại vần vũ sắp mưa, tôi nhận lời ở lại với anh.
Đêm ấy, tôi và Thanh Ứng trò chuyện đến khuya mới ngủ. Bên Thanh Ứng, tôi ngủ một mạch đến sáng. Mấy bữa sau gặp anh Nguyễn Công Trứ tại phòng sáng tác - xuất bản, anh chìa cho tôi tờ giấy:
•- Thanh Ứng nó có bài thơ tặng cậu đấy. Đọc đi. Nghe được đấy. Chân mộc, có tình, đúng chất thơ cậu ta.
Tôi hồi hộp đọc những dòng thơ bạn viết tặng mình "Tặng Bạn Lâm Nghiệp"
Chiều nay về với rừng
Ghé thăm tôi chốc lát
Chuyện vui chẳng muốn dừng
May sao trời nặng hạt!
Anh ngủ lại nơi đây
Hai đứa chung giường một
Lo đêm hè nóng nực
Trời trở gió heo may
Ngỡ mình về với lán
Anh ngủ rất say sưa
Tôi nằm yên bên bạn
Để anh tròn giấc mơ
Hơn hai năm sau ngày nhận được bài thơ tặng của Thanh Ứng, tôi về làm biên tập tại phòng sáng tác - xuất bản Ty Văn hóa Hòa Bình. Quách Ngọc Thiên và Thanh Ứng là hai người đầu tiên đến chúc mừng tôi. Thanh Ứng đưa cho tôi hai bao thuốc lá, một Tam Đảo, một Nhị Thanh. Tôi biết đây là những bao thuốc anh được mua tiêu chuẩn, phân phối và anh cũng cần dùng, nên chỉ xin nhận bao thuốc Nhị Thanh, nhưng Thanh Ứng đẩy bao Tam Đảo trả lại tôi:
•- Ông cầm cả mà hút. Ông nghiện hơn tôi mà. Mừng ông chuyển về đây, lẽ ra phải có gì chia vui với ông, chứ chỉ có ít khói thuốc, đáng gì!
Thanh Ứng là thế.
Hợp tỉnh, về phòng sáng tác thơ - văn - nhạc - họa của Ty Văn hóa Hà Sơn Bình, qua nhà thơ - nhà nghiên cứu văn hóa Trần Lê Văn, tôi mới biết Thanh Ứng làm thơ rất sớm, đang học cấp ba Ứng Hòa đã đạt giải Nhất cuộc thi thơ của tỉnh Hà Tây. Tổng kết cuộc thi, nhà thơ Trần Lê Văn viết: "Bài thơ "Đừng bẻ lá cho con" trúng giải nhất là của bạn Thanh Ứng, một học sinh. Bài thơ tươi mát và nhiều nhựa như tuổi trẻ của tác giả. Thanh Ứng nói về việc bảo vệ cây có tình như nói về việc bảo vệ người. Hình tượng cái cây non và hinh tượng em bé trong bài thơ cứ quyện lấy nhau khăng khít.
Bài thơ của Thanh Ứng không có dụng ý bố trí mà vẫn chặt chẽ, không có dụng ý làm đẹp mà vẫn có duyên, nội dung tư tưởng tỏa ra từ bài thơ, nhẹ nhõm như hơi thở, không có gì gò gấm. Những cái đó là một báo hiệu tốt của một người mới làm thơ" (Trần Lê Văn - "Mấy ý nghĩ về tập thơ Cây xanh", 1963).
Nhà thơ Trần Lê Văn đã có nhận xét về bài thơ và năng lực thơ của Thanh Ứng thật xác đáng. Bằng chứng là "người mới làm thơ" Thanh Ứng, dù mấy năm sau giải Nhất được lĩnh, vì bận theo học Đại học để tích lũy hành trang của một giáo viên, phải tạm dẹp bỏ thơ, nhưng khi ra trường đến Chợ Bến - Kim Bôi tỉnh Hòa Bình dạy học cấp ba, sau đó về dạy Sư Phạm 10+3 của tỉnh, anh đã ngay lập tức trở lại với thơ. Để rồi anh liên tiếp có thơ gửi bạn đọc: "Học sinh nông trường", "Dáng đi", "Hương lá", "Phố Đúng", "Viết bên hồ nước", "Người gác dòng sông", "Một vùng quê ở sông Đà". Đặc biệt là "Tháng ba đến lớp" được tặng giải Nhất cuộc thi viết về Thày giáo và Nhà trường cùng hai nhà thơ: Trần Đăng Khoa (bài "Thày giáo thương binh") và Vũ Đình Minh (bài "Ý nghĩ ngày mưa"). Những bài thơ viết về con người và vùng đất Mường Hòa Bình đó, sau ngày hợp tỉnh Hà Sơn Bình, được Thanh Ứng bổ sung thêm phần thơ viết về Hà Đông quê anh, dồn thành tập thơ Hương Lá để Sở Văn hóa - Thông tin Hà Sơn Bình xuất bản, phát hành tháng 5-1988. Thi phẩm đầu tay này khẳng định vị thế nhà thơ hàng đầu vùng núi Tản - sông Đà của Thanh Ứng, một thi phẩm gồm 26 bài thơ thấm đẫm tình người. Đó là tình cảm của nhà giáo đối với học trò, là tình bạn bè thân thiết, là những xúc động của tác giả trước những con người và miền quê anh bắt gặp trên đường đời. Một "Học sinh nông trường" và "Tháng ba đến lớp" khiến người đọc quý trọng tâm hồn người thày giáo. Một "Bình" và "Bạn đi" làm ta yêu mến, trân trọng tình bạn của tác giả, đồng cảm được với câu thơ: "Dù thiếu cả hai tay, không thể thiếu bạn bè!" như một tuyên ngôn về lẽ sống của anh. Đến "Cặp sách của con" và "Với anh", người đọc thấy phần thẳm sâu tình cảm của nhà giáo - nhà thơ này. Đấy là hai bài thơ anh viết về những người ruột thịt. Một cho con. Một gửi hương hồn người anh trai liệt sĩ. "Sáu con rồi, anh vẫn ra đi rồi nằm lại.../Cả nhà không yên, chưa ai vào thăm...", người anh mà "Lúc còn sống ham công tiếc việc/Mà cái đói cái nghèo không khi nào hết/Đêm nằm nước mắt tràn mi"
Như vậy, có thể nói từ bài thơ đầu tiên được tặng giải lúc còn là một học sinh cấp ba đến chùm thơ được giải Nhất lúc đã là một nhà giáo, và cho đến khi anh đưa cả một tập thơ đầu của nghiệp thơ mình trình làng, Thanh Ứng đã định hình phẩm chất thơ của riêng anh - chất thơ thâm trầm, dung dị, giàu nhân tính. Minh chứng cho nhận định này là sau "Hương Lá", anh in "Tháng Ba Đến Lớp" tháng 9-1994, rồi "Ngàn Sao" tháng 11-1998, "Một mùa hoa" quý 1-2003, và gần đây nhất là tập thơ "Tạ Ơn Hoa Hồng" in quý 3-2007, Thanh Ứng vẫn bền vững một chất thơ riêng ấy. Ở cả bốn tập thơ xuất bản sau "Hương Lá", người đọc vẫn thấy một Thanh Ứng có những câu thơ, bài thơ hay nhất, cảm động nhất dành tặng những con người anh quý trọng, đồng cảm, thương cảm. Về thăm thày hiệu trưởng đầu tiên của trường cấp ba anh theo học từ 40 năm trước, Thanh Ứng nhói một nỗi đau khi thấy "Thày mặc vội cái áo ngày xưa thày hay mặc" và gia cảnh thày: "Mấy mươi năm vẫn nhà cũ ba gian/Kê hai phía hai cái giường gỗ mộc/Chiếc bàn cao khách vẫn ngồi uống nước/Trò đến nhiều thày lóng ngóng vào ra...". Vẫn thế, thơ gây xúc động trong lòng người đọc không phải bằng chữ nghĩa mà bằng chi tiết và trước hết là tấm lòng người làm thơ. Kính thày, thương thày, người đọc còn hay thấy Thanh Ứng bâng khuâng nhớ bạn, thương bạn, nhất là những người bạn nghèo và những bạn đã đi xa mãi mãi, dù đó là những người bạn anh nhớ nguyên tên tuổi và cả những người bạn anh chỉ thoáng gặp. Nhớ người bạn thơ kiêm họa sĩ Lai Vu: "Bộ râu đen nghênh ngang/Những lời nói phũ phàng.../Kính cận đít chai/Lững thững một mình dọc phố.../Cuộc đời mới già nửa/Thơ chưa trọn là thơ/Họa mới có hình có nét/Bạn bè chưa nhận hết ra anh..." Ai đã gặp, đã quen Ngô Lai Vu sẽ thấy Thanh Ứng thật giỏi khi phác thảo chân dung nhà thơ - họa sĩ xấu số này, nhưng càng thấy cảm nhận của Thanh Ứng thật sâu sắc khi anh rút bốn câu kết về người bạn thơ của mình: "Nếu thiếu đi đôi lời khinh ngạo/Xóa đi bộ râu nghênh ngang/Thiếu đi thơ và họa/Có lẽ anh đã tuột rơi!".
Sau Lai Vu, Thanh Ứng còn viết tặng hai người bạn có tên tuổi nữa. Đó là bài "Bạn xa" gửi Trần Hữu Nghiễm - một bài thơ phảng phất thơ Đường hiếm thấy trong thơ Thanh Ứng:
"Bạn có gặp đâu mà thành nhớ
Vời vợi nơi xa cặp mắt buồn
Đăm đắm dõi theo đời dâu bể
Lòng trai say mãi điệu tâm hồn..."
Và đó là "Gửi người văn" Thanh Ứng tặng Hồ Đắc Đại: "Áng văn trong lời anh giảng/Mặn mòi đồng đất chân quê/Tóc thày phôi pha năm tháng/Vẫn vương những sợi trăng thề..."
Điều đáng lưu ý là thơ viết tặng bạn có tên tuổi cụ thể chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ so với thơ Thanh Ứng viết về những người bạn không tên. Đấy là thơ anh viết tặng một cô gái đắp bùn gieo mạ trong các rét căm căm, một cô gái Bắc Ninh anh gặp tình cờ ở vùng quê sông Đà, một cô gái Tày trong thoáng chiều Tu Lý, một cô giáo nén nỗi đau chồng hi sinh để giữ cho tiết giảng của mình trôi chảy, một cô giáo khác biết dẹp nỗi buồn bị chồng phụ tình để đón đứa con riêng của chồng về nuôi, và vẫn: "Trống vang lên em vào lớp đúng giờ/ Ngày bốn tiết vẫn chăm dạy học/ Trò cấp một buổi nào cũng hát/ Và đọc đồng thanh những câu thơ vui". Thanh Ứng còn viết về những người mắc bệnh tâm thần, về người tốt nghiệp đại học mà thất nghiệp mà phải ngồi bán xổ số... Đọc hết những bài thơ anh viết về bạn bè, ta ngộ ra: Thanh Ứng toàn viết về những người nghèo và khó, những thân phận hẩm hiu trên đời này. Nếu cộng thơ mảng thơ Thanh Ứng viết về học sinh nghèo vùng cao - những người bạn nhỏ tuổi - mảng thơ đem về cho anh hai giải Nhất hai cuộc thi thơ viết về Thày giáo và Nhà trường tổ chức năm 1978 và năm 1990, trong đó, bài "Tháng ba đến lớp" đưa anh vào tuyển tập "Thơ Việt Nam hiện đại" (tập II, nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1994), thì càng thấy rõ: "thơ Thanh Ứng hay quan tâm tới những cảnh ngộ, anh là cây bút giàu lòng trắc ẩn". (Vũ Quần Phương. Thế giới mới, số 4, tháng 12/1990).
Để rõ hơn đặc điểm này trong hồn thơ Thanh Ứng, xin hãy đọc phần thơ anh viết về những người ruột thịt của anh. Phần thơ này không nhiều, nếu tôi nhớ không nhầm thì ngoài mẹ và anh trai liệt sĩ anh viết mỗi người hai bài, còn thì anh viết về bố, về vợ, về các con mỗi người chỉ một bài. Ít, mà tinh, và hay. Đây là thơ anh viết về mẹ: "Mẹ có về với con được không?/ Tuổi sau mươi con lại cần có mẹ.../ Cuối đời mình thấm thía cảnh mồ côi/ Bị bắt nạt không có người bênh vực.../ Sáu mươi năm buồn vui, nước mắt/ Cứ ngỡ đã quen thiếu mẹ ở đời/ Bỗng hôm nay con thầm gọi hai tiếng: Mẹ ơi!/ Muốn đổi tất cả những gì để thêm một lần: Có mẹ...". Đây là thơ về cha: "Cha ra đi mang những giọt lệ đau/ Chắt cả đời đọng trong khóe mắt/ Cha nói gì tiếng chìm tiếng nấc/ Mười năm sau con chưa rõ được lời!". Còn đây là thơ anh viết về vợ - cô hàng xóm xinh xắn, đã gắn trọn cuộc đời với nhà thơ, lo toan mọi chuyện để anh chuyên tâm dạy học và theo đòi nghiệp thi sĩ, đến lúc cả hai nghỉ hưu "nhà ta vắng vẻ đìu hiu hai người", anh mới viết được một bài tặng nàng - bài "Chợ tạm về gần nhà" (giải Ba thi thơ Hà Tây 2006/2007). Bài lục bát 24 câu này khó lấy ra mấy câu riêng rẽ để giới thiệu, xin mời mượn nhà thơ Trúc Thông nói về bài thơ trước khi mời các bạn đọc nguyên văn toàn bài để cảm nhận hết cái tình của tác giả đối với người vợ yêu dấu của anh: "Mất mười hai câu vào bài để dựng không khí cái chợ tạm... tứ thơ "Chợ tạm" được đẩy tới bước nữa về cái không hề tạm của cuộc đời: cái ân đức còn lại mãi, sự gắn bó thủy chung bất biến, quãng đời còn lại sau chót của vợ chồng ta, người gánh vác chính lại là em...":
"...
Em không giỏi bán, giỏi mua
Cố vuông tròn để cho vừa tiền hưu
Chợ đông cả sáng, cả chiều
Nhà ta vắng vẻ đìu hiu hai người!
Chợ về tạm lại đi thôi
Còn em... gánh mãi quãng đời của anh..."
Cũng cần nói thêm điều này: hồn thơ giàu trắc ẩn, đau đời của Thanh Ứng không chỉ rung động trước những cảnh đời, những thân phận khổ đau của con người, nó còn xa xót buồn phiền trước mất mát và những đổi thay nghịch lẽ đời. Đấy là cảnh nhà thơ gặp lại cuốn thơ mình ký tặng, vì nghèo khó vợ con họ đem bán. Là cảnh làng quê yên ấm đang bị đô thị hóa, bêtông hóa. Là nông nỗi "Cuối đời mong một chữ nhàn/Mà rồi vướng nỗi đoạn trường đường xa" và "Làm chồng như đá khó thay/Thủy chung phơi giữa nước mây biển trời..." Là xa xót của một đời người ngẫm ra từ một "Chiếc vé vớt"... vân vân và vân vân.
Bây giờ thì, sau tất cả những gì đã đọc, đã cảm và ngẫm, ta có thể kết luận: Thanh Ứng - một hồn thơ nặng lòng nhân thế!
Hà Nội, 19/7/2008

letrungtiet | 16 November, 2009 17:52
TIẾNG CƯỜI
CHỞ NỖI TRUÂN CHUYÊN
Cảm nhận về tiểu thuyết Ao bèo gợn sóng của Lê Trung Tiết (Nhà xuất bản Hội nhà văn)
NGUYỄN THẾ KIÊN
Thôn quê - nơi cất giữ cái hồn của nền văn minh lúa nước. Nông thôn - cái mảnh đất màu mỡ, phì nhiêu cho những sáng tác của văn nghệ sỹ, từ nơi đây đã có nhiều tác giả thơ văn khẳng định được nhiều tài năng và tên tuổi của mình. Nhà văn Lê Trung Tiết cũng ở trong số ấy, khi ông cho ra mắt bạn đọc cuốn tiểu thuyết Ao bèo gợn sóng - Nhà xuất bản Hội nhà văn 2006.
Ao bèo gợn sóng là một cuốn tiểu thuyết đã khái quát rất sinh động và sâu sắc cuộc sống của nông thôn và nông dân qua ba thời kỳ: chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội và đổi mới. Bằng lối viết dí dỏm, độc đáo, LêTrung Tiết đã dẫn người đọc về với "ao bèo", về với làng quê bằng những tiếng cười muôn nỗi truân chuyên.
Theo tiếng cười của nhà văn, ta về với làng Chì trong kháng chiến chống Mỹ, để nghe "tiếng mưa vỗ binh bính trên tàu lá chuối đang căng đừ nhựa sống" trong vườn nhà một người thiếu phụ đang căng tràn sức sống, phải "cởi cả áo lót để dễ chịu hơn". Cười đấy mà nước mắt cứ trào ra. Cười khi con đỉa đồng chiêm dẫn đường cho bàn tay lạ tìm vào "khu vực cấm" của cô thôn nữ, để rồi sau đó mà họ thành vợ, thành chồng. Cười trong xa xót với Lệ khi cái phần người được giải phóng. Cười để cảm thông cho Lệ, để thấy sự kìm nén cái khoái cảm khổ đến thế nào: "sau cái đêm mê mẩn ấy, Lệ thấy mình như người khác, hay hát, hay cười, yêu con và quý mẹ chồng hơn" (trang 18). Nụ cười cảm thông chưa dứt, ta lại gật gù cười nụ bởi cách xử lý tình huống lạ, mà rất đậm tình người khi nhà văn đột ngột chuyển cái tình cảm vụng trộm của Lệ và Tại sang tình bằng hữu sáng trong, cần nói thêm rằng chuyện tình dục ở mối quan hệ này chỉ diễn ra một lần duy nhất. Đây là một sự chuyển hướng, mà phải cao tay lắm mới làm được như thế! Ta trân trọng nụ cười trong sáng, ấm áp này! Tình yêu đích thực là đây, có nhau một lần duy nhất, để rồi luôn sống thánh thiện vì nhau hôm nay và mai sau còn có nụ cười nào tươi hơn thế!
Đi sâu vào tác phẩm, có lúc ta phải đứng tim như khi chứng kiến cái chết của thằng Tình chỉ vì một cái ống nghe bị chuột gặm của vị y sỹ già, nhưng rồi lại nhoẻn miệng cười đưa tay quệt nước mắt khi thấy thằng Tình lại được đào lên và cứu sống.
Đó là những buồn vui ở phía nhân tình. Vào đến một phần năm của cái "ao bèo" ta mới thấy cái cười mà ông nhà văn họ Lê này cố giấu, chủ nhân của những nụ cười thế sự này là một tay kẻ sỹ đồng quê có tên là Các kẹ (tôi đã so sánh nhân vật này với huyền thoại Chí Phèo của Nam Cao và Chu Văn Quyềnh của Nguyễn Khắc Trường thì thấy đây là nhân vật khác hẳn). Phải nói Lê Trung Tiết đã xây dựng được một nhân vật điển hình của điển hình - nhân vật này thuộc về nông dân, là đối tượng để giữ cho cuộc sống nông thôn đỡ đắng cay. Đây là mẫu nhân vật thường có ở các làng quê Việt, nhưng chưa được văn nghệ sỹ khai thác. Trở lại tiếng cười từ khi nhân vật Các kẹ xuất hiện, thì thấy đó là những tiếng khóc xé lòng thương cho cái tảo tần vất vả, cái thật thà giản dị, cái ngờ nghệch hồn nhiên của những người nông dân. Cái "cười như mếu" ở nông thôn qua văn của Lê Trung Tiết mới thấy còn nhiều đến vậy. Đáng nói nhất là những cái cười mang tính thế sự trong Ao bèo gợn sóng, (viết đến đây tôi chợt nhớ đến đôi câu thơ của thi sĩ Hồng Nhu: Mắt là mắt của người ta/ Tôi đem nhắm mở như là mắt tôi). Phải, đã có không ít những "công bộc" ở cơ sở, nhìn thế giới quan bằng đôi mắt của người khác, bỏ quên cả chức năng và hạnh phúc để được làm mẹ, làm vợ, đó là Toan, là Xá v v. Một đời ấu trĩ để đến khi cập mạn tuổi già Toan phải nhờ con lợn sề đến nước phối giống dẫn đường mới tìm lại được chính mình, mới biết mình là đàn bà theo đúng nghĩa (trang 203 - 204). Cái cười này mang đặc trưng của thời kỳ hậu chiến tranh và thời bao cấp.
Xin đi vào một đoạn khác để cùng Các kẹ cười trong thời kỳ đổi mới: "Đang là phó bí thư chi bộ rồi, anh mà trúng trưởng thôn nữa anh sẽ cho chúng nó ra tóp". Ôi ! mới chỉ là một tay tép riu ở quê đã có thể cho ra tóp một kẻ dám nói thật như Các kẹ. Vậy thì những con rô, con diếc còn oai đến mức nào? Ta cùng cười cùng nhà văn mà mắt thì thăm thẳm suy tư.
Có thể nói từ khi ở nông thôn xuất hiện nhiều những nhân vật kiểu như Các kẹ (trong khoảng mấy năm đầu thiên kỷ) thì các "ao bèo" ở làng quê bắt đầu gợn sóng, những con sóng nhỏ nhoi vỗ vào nỗi đau giữa hai chiều cười, khóc. Cái cười là tài sản vô giá của nông thôn. Có thể nói nắm bắt được điều ấy, Lê Trung Tiết đã khai thác những góc cạnh mới trong cuộc sống và con người của vùng nông thôn Bắc bộ qua tiếng cười đa dạng của đồng quê.
Sau khi đi qua mấy néo tiếng cười của nhà văn, xin được nói đôi dòng về lối viết của ông. Trước hết ông xây dựng các tuyến nhân vật rất rõ ràng, văn của ông dụng công mà như kể chuyện tự nhiên vậy. Mỗi con người trong văn của ông mang một vẻ riêng, ông tả về họ rất chân thực, từ cử chỉ đến lời nói. (Âu cũng là dễ hiểu, bởi ông được sinh ra từ cái làng Chùa nổi tiếng của tỉnh Hà Tây, nơi mà thơ văn được coi như một thứ tôn giáo).
Thật vậy, khi ông viết về cái kiểu đanh đá nhà quê, những dòng văn của ông cũng ngoa ngoắt, xóc xói kinh người.. Và để tạo thế cân bằng cho miếng "khẩu quyền" này ông phải dùng tới phân tươi độc chiêu mà có lẽ ta mới chỉ nghĩ thôi đã đủ ghê người. Ao bèo gợn sóng của Lê Trung Tiết còn dũng cảm động chạm tới những vấn đề nhậy cảm (như chế độ lương bổng trợ cấp cho nông dân, việc xử lý chuyện tham ô, hối lộ không quá năm trăm nghìn đồng vv...).
Chính những vấn đề đầy tính bất cập đó tác động mạnh đến trái tim nhân hậu của nhà văn Lê Trung Tiết, và cùng với tiếng cười trăm nỗi truân chuyên đã làm nên thành công của tiểu thuyết Ao bèo gợn sóng.
Khép cuốn tiểu thuyết của ông lại, tôi cứ nghĩ: giá như Ao bèo gợn sóng được những loại hình nghệ thuật khác đem đến cho công chúng, thì có lẽ Lê Trung Tiết đã trở thành người thân của mọi vùng nông thôn trên đất Việt.
letrungtiet | 14 November, 2009 10:51
MỘT CHIẾC LÁ ĐẸP VỚI NHIỀU GÂN LÁ
(Vài cảm nhận đọc "Ao bèo gợn sóng" của nhà văn Lê Trung Tiết)
DƯƠNG MAI HƯƠNG
Lê Trung Tiết là cây bút văn xuôi gây được ít nhiều ấn tượng đối với độc giả từ những năm 1993, với một số truyện ngắn trên Tuần báo Văn nghệ và các báo của Trung Ương. Tiếp đó là "Tưởng tượng" (Tập thơ - Hội VHNT Hà Tây - 1998); "Những cuộn khói ngày mùa" (Tập truyện ngắn - Nhà xuất bản QĐND - 2001); "Mênh mông bờ nước" (Tập truyện ngắn - Nhà xuất bản Hội Nhà văn - 2003). Và đặc biệt tiểu thuyết "Ao bèo gợn sóng" do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2006, đã đoạt giải thưởng văn học 2006 của Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam. Nhờ sự cố gắng không ngừng đó, anh đã trở thành Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Không giống như một loạt những tác phẩm thị trường được xuất bản rầm rộ gần đây. "Ao bèo gợn sóng" được đánh giá là tiểu thuyết khá "trong sáng" và giàu tính nhân văn cao đẹp.
"Ao bèo gợn sóng" là một lát cắt ngang về cuộc sống của nhân dân làng Chì, xã Kim Loại - ngôi làng nằm bên dòng sông Đáy hiền hoà. Trong một khoảng thời gian không dài, tác giả đi sâu quan sát và miêu tả từng con người, từng sự việc đang diễn ra ở cái làng quê bé nhỏ ấy. Mỗi con người hiện lên dưới ngòi bút của Lê Trung Tiết đều chân thực và sinh động đến lạ kì. Thế giới nhân vật của "Ao bèo gợn sóng" là một sự đan cài bởi ở đó, không gian làng cảnh của nông thôn Việt Nam xưa hiện lên rõ nét. Đến tên của nhân vật cũng đậm chất dân dã ấy. Những người có tuổi đọc "Ao bèo gợn sóng" để nhớ lại tuổi thơ, những người trẻ tuổi đọc lại thấy thích thú như vừa khám phá ra một thế giới mới. Giữa một loạt những tác phẩm chỉ thấy sex, yêu đương ngòn ngọt, thì văn về nông thôn của Lê Trung Tiết càng trở nên có giá.
Đặc biệt, trong ấy, Lê Trung Tiết đã dày công miêu tả và xây dựng rất nhiều nhân vật nữ. Những người phụ nữ làng Chì ai cũng giỏi giang, mạnh mẽ nhưng không một ai là không muốn có cuộc sống hạnh phúc giản dị với chồng, với con. Và vì gia đình họ có thể hy sinh hết thảy. Người đàn ông trở thành nền để những người phụ nữ ấy có điều kiện bộc lộ hết thế mạnh của họ.
Đó là chị Toan - bị bố mắng mỏ, đay nghiến đã quyết tâm trở thành người có địa vị, sau quá trình phấn đấu chị đã trở thành Chủ tịch xã Kim Loại. Nhưng mải mê sự nghiệp chị lại gặp bất hạnh về đường chồng con. Hết nhiệm kì thôi chị không làm chủ tịch xã nữa, chị trở về làm một người nông dân với những công việc đồng áng hàng ngày. Khát khao có một đứa con đã giúp Toan dũng cảm thoát ra ngoài những định kiến lễ giáo phong kiến xưa cũ và cuối cùng hạnh phúc lại mỉm cười với chị. Phệch là người trốn lính còn Toan là người xử phạt anh bây giờ gặp lại nhau cả hai người đều ái ngại nhưng cả hai vẫn dành cho nhau những tình cảm tốt đẹp. Việc Toan đến với Phệch như là một sự chắp vá lại hạnh phúc của một người đã để lỡ nó vì những "vinh quang vô ích" *. Bằng tình yêu và sự nhẫn nhịn, và hơn cả là ước muốn được sống hạnh phúc, Toan đã chiếm được cảm tình của cả Lân - vợ trước và thằng Phụ - con trai của Phệch. Thế mới biết người phụ nữ dù giỏi giang đến đâu cũng cần một người chồng, một mái ấm gia đình hạnh phúc. Để có được điều đó họ sẵn sàng làm mọi thứ, kể cả bất chấp "miệng thế gian".
Đó là một cô Lệ - vợ liệt sỹ, một mình nuôi con, chăm sóc mẹ chồng. Đến khi mẹ chồng qua đời, được sự mai mối cô về làm vợ anh Thuấn - hỏng một chân, rồi làm kế toán trưởng làng Chì. Cô trở thành trợ thủ đắc lực của làng trong cuộc chống lại thói hư tật xấu. Một cô trưởng thôn Thơm giỏi giang, đã từ bỏ sự nghiệp để gia đình được hạnh phúc. Một cô Vi dòng dõi quý tộc đất Cần Thơ, vì tình yêu đã bỏ sự giàu sang để về với Tố. Một cô Phả - em dâu Lệ tuy bị nhà chồng hắt hủi, chồng cũng làm rất nhiều chuyện không phải với cô nhưng khi đã tìm được đứa con trai và được người chồng mới yêu thương hết mực, cô đã tha thứ và đi tìm người chồng cũ nay bị điên, đưa vào Trâu Quỳ. Và một Luật sư trẻ tên Lụa, từ bỏ tình yêu với anh chàng nhà giàu nhưng ích kỷ, thiển cận để tìm đến lẽ phải, sự công bằng. Sự xuất hiện của cô ở cuối truyện được Các kẹ hô to lên như là sự cổ vũ, thắng thế của cái thiện. Chắc chắn người phụ nữ này sẽ góp phần không nhỏ vào sự tiến bộ và phát triển của làng Chì.
Câu chuyện không có nhân vật trung tâm và hình như ai cũng là nhân vật chính. Tất cả mọi nhân vật đều xuất hiện với vai trò như nhau, khiến câu chuyện có phần độc đáo. Điều thú vị và cũng là sáng tạo của Lê Trung Tiết chính là ở chỗ anh đã để cho một nhân vật Các kẹ xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm. Ấn tượng ở chỗ người đọc có thể thấy Các kẹ được xây dựng theo một mô típ nhân vật "chú hề" trong các vở chèo, tuồng cổ. Từ hình dáng đặc biệt: thấp bé như trẻ con dù đã là bố của mấy đứa trẻ cho đến cái miệng rộng, giọng nói the thé lại rất hay nói móc máy và cái gì cũng biết nhờ tài quan sát và đoán biết, bắt nọn... Chính sự độc đáo đó khiến truyện trở nên hoạt hơn, các sự kiện được nói đến cũng vì thế mà khách quan hơn. Đôi khi Các kẹ trở thành nhân vật trung tâm, nắm bắt và xoay chuyển cả câu chuyện.
Đọc "Ao bèo gợn sóng" người ta thấy câu chuyện tiếp diễn theo mạch chính và được phát triển thành nhiều nhánh nhỏ như cấu tạo của một chiếc lá. Mỗi nhân vật khi được nhắc đến đều được tác giả "nói qua" về quá khứ, gốc gác, họ hàng... Điều đó giúp người đọc dễ hình dung về nhân vật và hiểu sâu hơn dụng ý của tác giả. Nhưng dường như điểm mạnh ấy phần nào lại trở thành điểm yếu của tác phẩm. Chúng ta hãy tưởng tượng: một chiếc lá có nhiều gân lá theo một số người thì nó rất đẹp nhưng cũng có những người không thích nó. Ấy vậy mà ở đây đôi khi lại có quá nhiều những chiếc lá như thế. Nếu một số người đọc văn ấy rất thích vì văn của Lê Trung Tiết mượt mà, giàu hình ảnh, nhiều chi tiết và rất tinh tế, thì một số người họ sẽ cho rằng đó là kể lể dài dòng. Tất nhiên không thể phủ nhận nhà văn đã rất tài khi miêu tả cuộc đời của mỗi nhân vật. Phải khẳng định những chi tiết đắt và tinh tế ấy là nhờ tài quan sát và nắm bắt của nhà văn.
* "Vinh quang vô ích" Tên một truyện ngắn của Liên Xô cũ nói về một người phụ nữ hãnh tiến, tự phá vỡ hạnh phúc gia đình.
letrungtiet | 12 November, 2009 16:06
"AO BÈO GỢN SÓNG"
MỘT TIỂU THUYẾT CHÂN THỰC
VÀ SẮC SẢO VỀ NÔNG THÔN
("Ao bèo gợn sóng"- Tiểu thuyết của Lê Trung Tiết - Nhà xuất bản Hội Nhà văn 2006)
THANH ỨNG
Lấy vùng nông thôn đồng bằng bắc bộ thời chống Mỹ và những năm trước khi có Nghị quyết đổi mới của Đảng làm bối cảnh, Lê Trung Tiết tỏ ra thông thuộc những vấn đề, những câu chuyện, những con người vùng quê này. Toàn bộ cuốn tiểu thuyết "Ao bèo gợn sóng" đã tái hiện lại cuộc sống với nhiều sự việc bề bộn trong các mối quan hệ dọc ngang phức tạp và nhiều biến động ở làng Chì và các làng bên là làng Thiếc, làng Đồng của cái xã tác giả gọi là xã Kim Loại. Đó là khung cảnh nông thôn miền Bắc thời đánh Mỹ khi "Tất cả vì miền Nam ruột thịt", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người"... Từng nhà, từng ngõ xóm trai tráng đi bộ đội, còn lại là các cụ già, trẻ em, phụ nữ và những chàng trai không còn là con trai. Trong công cuộc đó, những người phụ nữ luôn đón nhận những công việc nặng nhọc, đồng thời cũng chịu đựng muôn nỗi đắng cay cơ cực. Ở đó, tình làng, nghĩa xóm, tình người được nhen nhóm, cưu mang song không phải không có những kẻ "đục nước béo cò" lợi dụng để làm điều sai trái và thoả mãn ham muốn thấp hèn. Lệ là một cô gái được tác giả tập trung miêu tả ngay từ những chương đầu. Chị là vợ liệt sỹ, trung đội trưởng dân quân, sau đó còn làm kế toán trưởng Hợp tác xã. Một cô gái đẹp người, đẹp nết, chung thuỷ được mẹ chồng yêu quí, tôn trọng. Nhưng trong bối cảnh ấy, Lệ muốn giữ cho lòng mình cũng khó. Khi có tin đồn chồng chị phản bội, chiêu hồi, chị dò nghe đài địch thì bị Thập, Phó Chủ tịch xã bắt quả tang. Không thoả mãn yêu cầu tình dục với chị, Thập cô lập, nói xấu Lệ. Cuối cùng Lệ phải từ chức. Mối tình chớp nhoáng của Lệ và Tại cũng chẳng đi đến đâu. Lệ được Tại giới thiệu và kết hôn với Thuấn, cháu Tại. Đó là một người kém Lệ 6 tuổi "một bên chân bé tí tẹo lủng lẳng như quả bầu héo". Lệ bằng lòng với hạnh phúc giản đơn và muộn mằn đó.
Một phụ nữ tên là Toan lại có hoàn cảnh éo le riêng. Chị đẹp gái, khoẻ mạnh, hăng hái phấn đấu. Từ bí thư xã Đoàn rồi lên Chủ tịch xã. Chị lấy anh Thành - một thanh niên tốt, một cặp vợ chồng "xứng đôi vừa lứa". Do những cực đoan chị đã đánh mất hạnh phúc gia đình. Chồng đi bộ đội hoà bình không trở về với chị mà lấy vợ hai trên tận Thái Nguyên. Chị ở nhà sống cô đơn, buồn bã. Phải nghỉ công tác do gia đình lủng củng, chị ở nhà nuôi mẹ chồng già yếu. Khi mẹ chồng mất, chị đã có mang với một người đã có vợ đang ốm sắp chết. Chị lấy người đó, chính là người chị đã đọc lệnh tập trung cải tạo vì trốn nghĩa vụ quân sự và chị chịu phận làm lẽ.
Thơm, một nữ trưởng thôn công minh trong sạch, không tơ hào một đồng của công, minh bạch trong công việc song cũng không trụ vững được bao lâu do người chồng ép buộc và cuộc sống xô đẩy. Chị đành viết đơn từ chức.
Cùng với Lệ, Toan, Thơm là Quế, Thảo, Xoa, Thuý, bà Nhênh... những phụ nữ làng Chì nếu không phải bán xới khỏi làng kiếm cơm như Phả, Tính, Vi thì đều là những người vất vả tối ngày làm lụng để chống chọi với cái đói, cái khổ. Có một nhân vật ít xuất hiện trong tác phẩm nhưng đây chính là yếu tố mới của người phụ nữ nông thôn mới. Đó là Lụa, người làng Chì học Đại học Luật và đang làm Thanh tra huyện. Lụa như làn gió mới ở cái làng Chì oi bức đang có những đòi hỏi phải thay đổi.
Lê Trung Tiết đã rất hiểu những con người thuộc hàng chức vị ở làng Chì lúc đó. Những người có chức quyền và có tâm với dân với nước thì chẳng có là bao. Người có tâm, có chức mà không có quyền như bí thư Hưởng... ở làng Chì này cũng hiếm. Ông ủng hộ biện pháp chia ruộng cho nông dân để họ tranh thủ làm nhanh kịp thời vụ của đội trưởng và cho gia đình khó khăn mượn ruộng... song lại không dám ra mặt. Ông ngầm đem ruộng của mình cho nhà anh Sương một hộ nghèo ở làng mượn. Ông nghĩ. Như thế vừa giúp được hộ nghèo vừa không vi phạm nghị quyết. Ông Tại, một nông dân tốt, một chủ nhiệm tận tình nhưng ngoài Đảng nên làm ăn thật khó. Tác giả cũng dành nhiều trang để miêu tả đậm nét nhân vật Nhự - cán bộ thuế. Một con người tàn nhẫn, độc ác, không còn tính người... Hắn trắng trợn dùng mọi thủ đoạn để thu thuế và làm giàu cho gia đình hắn. Đó thực sự là tên cường hào mới ở làng quê Việt Nam lúc đó. Một nhân vật được người đọc chú ý và có nét riêng đó là Các kẹ. Anh này có bề ngoài khó gây được cảm tình: "Gần bốn mươi tuổi mà dáng nhỏ bé như trẻ con, da thất bì, mặt già đanh, mồm rộng ngoác". "Ai cũng bị chọc tức, tức mà không làm gì được". Có lẽ trong lúc cán bộ, chức vị trong làng ai cũng "há miệng mắc quai" khó tìm ra được nhân vật tiêu biểu thì Các kẹ là người nói thẳng, nói thật, nói trực diện, có những hành động mà những người chân phương không dám làm. Anh ta phân tích sự bất công trong chấm công điểm HTX lúc đó, anh tìm ra những nguyên nhân gây thiệt hại cho lúa, cho tập thể do nạn sâu mọt... sự mất cân bằng về vấn đề bảo hiểm cho nông dân... và gay cấn hơn anh ta dám cả gan tụt quần, cởi áo trần truồng lội qua ao để vào dự cuộc tiếp xúc cử tri của hội đồng cấp trên, mặc dù anh ta không được mời... Nhân vật vừa tích cực, vừa tiêu cực, ương ương, dở dở này ta thấy nhan nhản ở nông thôn... mọi người nhất là ai có chức vị phải kiêng dè. Đây là một thực tế được tác giả nhìn nhận một cách nghiêm túc và có ý nghĩa phát hiện.
Tất cả khung cảnh nông thôn vùng Bắc bộ được tác giả phản ánh chân thực và khá sinh động. Không khí sôi nổi của các phong trào "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang"... của nam nữ thanh niên, những đêm tuần tra, trực chiến dân quân, tự vệ, những buổi họp thanh niên, họp đoàn, họp đội sản xuất, giúp người đọc sống lại một thời kỳ oai hùng trong ký ức. Thời đó, thời thịnh vượng của phong trào Hợp tác xã với bao nhiêu ấu trĩ, non nớt của công tác quản lý. Từ Hợp tác xã nhỏ đến Hợp tác xã lớn toàn xã. Từ cung cách chấm công giao việc đến bình bàu, bỏ phiếu... bộc lộ đầy đủ những tiêu cực kể cả thủ đoạn gian lận như bỏ tiền mua phiếu bàu, mua chuộc, khống chế, đả kích cán bộ... Rồi đến khoán chui, biển thủ, tham ô, chủ nghĩa hình thức, hô to ở nhiều công việc hệ trọng như: tiếp xúc cử tri, đại hội xã viên, đại hội toàn thể... Đến nay những cung cách ấy ở đâu đó vẫn còn là những vấn đề thời sự nóng hổi.
Nhờ có thời gian và có ánh sáng của công cuộc đổi mới soi rọi. Lê Trung Tiết đã nhìn hiện thực đó một cách sáng rõ, ngòi bút phanh phui mạnh mẽ và có lúc tự kiểm như người trong cuộc.
Theo tôi (người viết bài này) "Ao bèo gợn sóng" đúng là bức tranh nhiều mảng màu, nhiều đường nét, nhiều con người với độ đậm nhạt khác nhau. Lê Trung Tiết chưa tập trung tâm lực và trí lực xây dựng một nhân vật thật đậm nét xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Nhân vật đó không chỉ trong tác phẩm mà còn có khả năng bước ra ngoài đời sống cùng chúng ta. Tác giả cũng có lúc chưa theo đến cùng những câu chuyện mà anh cùng nhân vật xới lên trong tác phẩm. Cũng có thể tác giả chỉ muốn khắc hoạ cả ao bèo, khi trong trẻo, khi tù đọng, lúc đang tĩnh lặng bỗng nhiên gợn sóng, theo đúng với cái tên của nó. Đó là cách đặc tả riêng của mỗi tác phẩm, còn cái cảm thuộc về mỗi độc giả.
Tuy nhiên, bằng vốn sống thực tế phong phú ở nông thôn với văn phong khá sinh động, "Ao bèo gợn sóng" là cuốn tiểu thuyết phản ánh chân thực và sắc sảo hiện thực của một thời đáng nhớ ở nông thôn ta ngày ấy.
Hà Đông 8/2006
letrungtiet | 28 October, 2009 09:43
CHƯƠNG IV
1
Thành đưa hai đứa con trai về quê để làm giỗ bố và nhận anh em họ hàng nội ngoại. Toan đang xắn quần vớt bèo ở ngoài ao, nghe tiếng gọi của con bé Hằng, con bà Thanh chị gái của Thành eo éo ngoài ngõ:
- Mợ ơi, mợ Toan ơi. Mợ có khách đây này.
Toan gếch rổ bèo lên bờ ao, chạy vội vào đến vườn thì chị đột ngột sững lại. Trước mắt Toan là Thành và hai đứa nhỏ, đứa lớn chừng tám tuổi, đứa bé khoảng năm, sáu tuổi gì đấy. Thành cũng ngạc nhiên trước thân thể có phần già nua của vợ. Trước đây hình ảnh trẻ trung tươi vui của Toan đã trói buộc tình yêu của Thành tưởng chừng mãi mãi. Anh không ngờ chính anh đã cởi bỏ sợi dây vô hình ấy lúc nào. Ngày anh và Toan cùng chung hạnh phúc, Toan có làn da mà mẹ anh phải thốt lên là trắng nhễ trắng nhại. Còn anh thì chết mê chết mệt thật sự đôi mắt đen láy long lanh như có nước ấy, mái tóc buông dài óng mượt đến tận khoeo, cái áo cánh trắng chiết ly lộ một tý eo lưng trắng mịn, mát như bột lọc. Thành ấp úng giây lát rồi lên tiếng:
- Kìa các con, chào mẹ đi các con.
Toan đứng như cột gỗ chôn chân xuống vườn, chị không thể tưởng tượng được hoàn cảnh lại trớ trêu đến thế. Sao anh lại bắt chúng nó gọi Toan bằng mẹ, Toan có nuôi chúng nó được ngày nào hay ít ra chính Toan phải đồng ý để anh lấy vợ hai chứ. Đằng này chính Toan đã gọi anh là kẻ phản bội, bảo mẹ chúng nó là đứa cướp chồng. Con chó đốm thấy người lạ sủa inh ỏi, nó cứ tiến gần vào chân Thành rồi lại lùi ra sủa. Hai đứa trẻ con cứ dúm lại quanh bố, đứa túm chân quần, đứa bám thắt lưng.
Như đã trấn tĩnh được sau vài phút ngỡ ngàng, Toan chạy lại mắng con chó và có ý giảng giải:
"Đốm. Đây là người nhà nghe chưa". Con chó vẫn ngửa mặt lên trời sủa. "Đốm, đã bảo là người nhà, nói không nghe à". Con chó như hiểu được ý chủ, nó cụp đuôi lùi lũi ra góc hiên nằm vào cái ổ bện bằng rơm. Toan quay lại với Thành nhưng mắt chị không nhìn đi đâu cả:
- Anh vào nhà đi, kìa các cháu nữa.
Thành dắt tay hai đứa nhỏ vào nhà. Thành muốn hai đứa con gọi Toan bằng mẹ, nhưng chắc là Toan không muốn. Toan kéo ghế, pha nước mời anh ngồi. Hai đứa bé rụt rè ngồi xuống giường mắt ngước lên ban thờ, nhìn nhau rồi lại nhìn trộm Toan. Thành gọi:
- Hà và Hải đâu? ra đây bố bảo. Hai đứa chào mẹ đi.
Hai đứa trẻ tiến lên vài bước đứng trước mặt Toan. Đứa lớn nói rất nhanh như để cho xong nghĩa vụ "Con chào mẹ ạ". Đứa bé ấp úng chào theo: "Cháu... cháu chào mẹ ạ". Toan vờ như không nghe rõ nhưng chị tỏ ra dễ dãi:
- Thôi được rồi, các con đi rửa mặt mũi chân tay rồi vào nằm nghỉ cho đỡ mệt. Anh ở nhà trông giúp em nồi nước làm gà, em chạy ù ra ngõ đình mua thêm cái gì để làm món sào, còn món anh thích thì ở vườn nhà mình đã có sẵn rồi.
Thành thật xúc động khi Toan nhắc đến sở thích của anh. Bữa cơm ngon đối với anh bao giờ cũng phải có rau sống. Toan tất tưởi chạy đi. Thành nhìn lên ban thờ, anh không thể ngờ được tấm ảnh của bố mẹ anh ngày trước đã mốc mờ nhiều vết loang nham nhở mà bây giờ lại rõ lên và được phóng to hơn. Hai cái khung ảnh mới thật sang. Mâm ngũ quả đã có sẵn nải chuối rõ to và đẹp, một quả bưởi và mấy quả hồng đỏ rực, mấy quả quất vàng cài điểm thật cẩn thận. Anh đang điểm lại những gì đã thay đổi trong nhà thì tiếng bà Thanh chị của anh đang xoen xoét ngoài ngõ.
- Cậu Thành ơi, cậu về rồi đấy à. Mợ và các cháu có về không?
Tiếng dép lê của bà Thanh nẩy lên bành bạch. Thành nhìn ra thấy chị gái đang đi vào, anh quay lại nói nhỏ với những đứa con: "Bác vào, hai đứa phải khoanh tay chào bác nhé"...
Sau bữa cơm, Thành nhớ lời chị dặn "Ăn cơm xong, cậu sang chị bảo cái này, cho cả hai thằng sang để nó biết anh biết em cậu nhé". Thành bảo với Toan:
- Anh sang chị một lúc rồi anh về, em dọn cho anh nhé.
- Anh cứ đi đi.
Toan nói với anh thế nhưng thực lòng Toan rất sợ anh sang với chị Thanh. Toan biết thể nào chị cũng sẽ nói với anh những điều không hay về Toan, nhưng thôi kệ chị em người ta muốn nói, muốn bàn thế nào thì bàn chứ Toan có quyền gì mà ngăn cản.
Dọn dẹp xong, Toan thu dọn kê lại cái giường một ở trong buồng để nhường cái giường đôi ở nhà ngoài cho bố con anh ngủ. Toan lấy cái chiếu mới trải vào giường đôi thay cái chiếu cũ đã ngấm mùi nước đái của đứa con gái Thảo.
Đêm đã trũng xuống rất sâu mà Toan không sao ngủ được. Toan nằm nghiêng thì khó chịu, chân tay co quắp mãi đến mỏi rời, nằm ngửa thì thấy bụng cứ nằng nặng, cảm tưởng những nội tạng bên trong nó cứ lỏng lẻo thế nào ấy. Không chợp mắt được thì những suy nghĩ vẩn vơ càng ùn ùn kéo về xoáy sào sạo trong đầu Toan. Toan vùng dậy ra nhà ngoài, ánh trăng xuyên qua những ô của sổ làm căn phòng như được thắp sáng bởi thứ ánh sáng lờ mờ huyền diệu. Bố con Thành vẫn đều đều thở. Toan rón rén thắp nén hương cắm lên ban thờ rồi chị quay ngay vào trong buồng. Chị định đặt mình nằm cố xua đi những suy nghĩ vẩn vơ, nhưng chị thấy bụng tưng tức đến khó chịu. Chị thắp đèn và kéo ri đô. Qua ánh đèn dầu, chị nhìn thấy cơ thể chị đã khác nhiều so với hai tháng trước đây. Hình thể không còn eo thon. Nhất là cái đỉnh non tươi trên bầu ngực chị, nó đã ngả màu sẫm như quả sim chín, làn da bụng như mỏng và bóng hơn nhìn thấy cả những đường mạch máu ngoằn ngoèo như vết chì xanh. Chị mở va ly lấy ra cuộn vải mà chị đã chuẩn bị từ trước. Chị bắt đầu quấn, quấn vòng quanh bụng để nén cho nó nhỏ lại, mục đích của chị là chỉ cần qua khỏi ngày mai, ngày giỗ bố chồng mà không ai có thể nhận biết được, còn hôm sau muốn đến đâu thì đến, chị không cần quan tâm đến chuyện ấy. Đang quấn dở chừng thì có tiếng quẹt dép phía cửa buồng, chị thấy luống cuống quá. Không kịp nữa rồi, quấn vào cũng dở mà gỡ ra cũng không kịp. Trong tích tắc bối rối, chị chợt nẩy ra một phương pháp mà chị cho là tối ưu. Chị cúi xuống thổi tắt đèn và mò mẫm quấn vội vàng. Thấy Toan lúi húi ở trong và tự nhiên đèn tắt, Thành hỏi:
- Em làm gì đấy Toan ơi, sao lại tắt đèn đi?
- Em đang thay quần áo anh ạ.
Thành đành quay ra nhà ngoài châm đèn pha trà và ngồi hút thuốc lá. Thành cứ ngồi như thế ngẫm lại những năm tháng đã qua, đến khi điếu thuốc cháy nóng đầu ngón tay, con đường lùi về quá khứ của Thành mới bị cắt đứt. Cùng lúc Toan châm đèn trở lại, Thành lên tiếng:
- Toan này, ra đây anh bảo.
Toan chưa biết anh định nói gì nhưng hình như anh đã biết. Toan cảm thấy ngường ngượng khi phải đối mặt với anh trước ánh đèn. Toan cứ quanh quẩn dọn dẹp mãi trong buồng, Toan muốn lấn lá thật lâu để anh phải thay đổi ý định ngồi đối diện với nhau lúc này. Nhưng anh vẫn kiên trì ngồi nhấm nháp sự im lặng. Không còn việc gì để cố kéo dài thời gian nữa, Toan đành thổi tắt đèn và ra nhà ngoài. "Anh bảo gì cơ". Thành vừa ngồi lùi vào vừa nói:
- Em cứ ngồi xuống đây.
Toan bẽn lẽn ngồi xuống cạnh anh, Thành rót chén nước chè đưa cho Toan rồi nói rất nhẹ nhàng:
- Anh biết em đang có điều rất khó giải thích và anh cũng rất khó xử, tốt nhất là chúng ta nên nói thật với nhau để mà giải quyết cho êm thấm - Toan còn đang lúng túng chưa biết nên nói thế nào, Thành tiếp - Có phải em có thai đúng không Toan?
Toan như người ăn vụng vừa bị bắt quả tang, Toan chẳng cần ý tứ nũa, mà ăn vụng thì đã là cái gì. Đã thế Toan sẽ bê hẳn mâm ra ngồi giữa thanh thiên bạch nhật mà ăn, mà nói, chẳng việc gì phải vụng trộm cho khổ. Toan cố nở nụ cười thật tự nhiên coi như việc Toan đã làm là hoàn toàn chính đáng:
- Thì anh đã biết rồi còn gì?
Thành ngớ người:
- Anh có biết gì đâu, em nói với anh bao giờ?
Toan nhấc chén nước lên miệng nhấp một ngụm trà đặc để giấu đi sự lúng túng:
- Thì bây giờ mới nói chứ sao. Người ta biết lo cho người ta thì cái thân già này cũng phải biết phận mình chứ, không khéo có ngày chết thối không ai biết mà chôn thì có.
Thành xoè một que diêm dí vào điếu thuốc, hơi khói phả ra xanh mờ vây quanh khuôn mặt. Anh nhăn mặt nuốt hơi khói đặc quánh rồi từ từ buông ra những tiếng nghèn nghẹn khói thuốc:
- Em tự lo cho thân em cũng được, nhưng cái thai ấy là của ai?
- Của ai thì cũng là của em, em dứt ruột đẻ ra nó, nó là con em.
Thành gay gắt:
- Con của em là đúng, nhưng nó không là con anh.
Toan cũng cảm thấy hơi nóng mặt nhưng chị cố dịu đi.
- Em có bảo nó là con của anh đâu. Em không buộc anh phải nhận trách nhiệm ấy, việc em làm em chịu chứ có gì.
Đến lúc này Thành không thể nghe được cách nói của Toan, anh sẵng giọng:
- Em nói như thế mà cũng nghe được. Em là vợ anh, em đang ở nhà anh, tất nhiên mọi người sẽ nghĩ anh là bố đứa bé chứ chả lẽ bố nó là thằng đàn ông cha vơ chú váo nào khác hay sao? Anh hỏi em, trên đời này đã có ai chịu được cảnh đi đổ vỏ cho thằng ăn ốc chưa?.
- Thì em sẽ đi khỏi đây, em sẽ giải thích với mọi người rằng em đi đánh nghạnh chửa hoang để kiếm đứa con, thế thôi.
Thành không thể ngờ được Toan lúc này lại nói cùn đến như thế. Mọi khi Toan là một cán bộ xã mẫu mực, một người vợ nết na chiều chồng hết lòng. Thành không thể nói thêm một câu gì nữa. Anh ngồi lặng đi châm điếu thuốc nhả khói trầm ngâm suy nghĩ.
Toan cũng ngồi im một lúc lâu rồi chị khe khẽ nói:
- Xong giỗ bố ngày mai, anh cho em về bên nhà. Cậu mợ Toàn đã nhiều lần bảo em về bên ấy - Tiếng nói của Toan âm âm từ trong cánh mũi - Cậu cứ khẩn khoản mãi "Về nhà đi chị, dù ở bên ấy cửa cao nhà rộng mấy cũng còm cọm một mình bằng sao được chị em no đói có nhau hả chị". Mắt Toan rơm rớm nước.
Thành vẫn không nhúc nhích, chỉ có những dòng suy nghĩ xoáy cuộn trong đầu Thành như những làn khói thuốc xoắn vào nhau trong không gian tĩnh lặng. Không khí nặng nề và ngột ngạt bao trùm cả hai người. Không ai muốn nói một câu nào và cũng không ai muốn đứng dậy. Họ cứ ngồi như thế, thi thoảng lại phả ra những tiếng thở dài não nuột.
letrungtiet | 26 October, 2009 22:51
- Lụa này, chú định viết đơn tố giác tay Thập, Phó chủ tịch xã. Chính hắn đã nhận tiền hối lộ của tay Bá chủ thầu xây dựng trường cấp I, cháu bảo đơn ấy gửi cho cơ quan nào?
Đang đơn độc với ý tưởng chống lại những kẻ sâu mọt, giờ có chú Các là Lụa có thêm một đồng minh. Lụa mừng như vừa tìm được ra một đáp án khó, để chứng tỏ Luận văn của mình là có khả thi. Lụa hỏi rối rít:
- Thế chú có chứng cứ gì không? Người ta trọng chứng hơn trọng cung chú ạ. Cho dù chính mắt chú nhìn thấy, tai chú nghe thấy nhưng khẩu thiệt vô bằng, chẳng ai người ta tin chú cả.
- Có chứ - Các vừa cười vừa rút ra tấm ảnh - Đây chú phải thuê anh Trọng thợ chụp ảnh, nấp trên trần của Uỷ ban mấy ngày mới chụp được đấy. Và đây nữa một trăm nghìn, anh Tá thợ chữa đài mới chịu ghi cho cuộc nói chuyện của hai vợ chồng tay Thập - Các rút trong túi ra một cái băng cassete.
Lụa mừng quá, Lụa thấy xúc động trước cử chỉ dũng cảm và cái tâm trong sáng của chú Các. Chính Lụa sẽ đem kiến thức đã học của mình để chất vấn, luận tội kẻ đã bòn rút xương máu của nhân dân, của Nhà nước.
- Chú ơi, thế ông Bá đưa cho ông Thập bao nhiêu tiền hả chú?
- Theo đoạn băng đối thoại của vợ chồng tay Thập và hình trong tấm ảnh thì Thập cầm tạm bốn trăm nghìn trước...
Nghe đến đây, Lụa thấy người nhão ra và Lụa thấy thương chú Các vô cùng. Chú Các là người dám hy sinh của cải vật chất và công sức của mình để đổi lấy sự bình yên cho xã hội, thế mà cũng không thành. Lụa sẽ phải an ủi chú như thế nào cho khéo để chú đừng nhụt đi ý chí.
- Chú ơi, cháu nói chú đừng buồn chú nhé. Cháu rất trân trọng và xúc động trước cái tâm của chú, nhưng chú ơi số tiền ấy chưa đủ để truy tố. Dưới năm trăm nghìn thì phải gây hậu quả nghiêm trọng hoặc tái phạm nhiều lần mới nằm trong khung hình phạt. Như thế này cùng lắm chỉ là khiển trách thôi.
Các cũng rã rời gân cốt, anh dựa lưng vào thành ghế, miệng bẹ ra:
- Thế thì còn nói làm chó gì. Ăn một nghìn hay một triệu thì cũng là ăn, cũng gây nguy hiểm cho xã hội chứ. Có khi ăn một nghìn còn gây nguy hại hơn ăn một triệu thì sao nào?. Tại sao lại lấy tiền để làm thước đo tội chứ. Giả dụ người ta hối lộ bằng tình không bằng tiền thì tính sao? Quy đổi thế nào?. Đấy cháu xem, một lần chụp ảnh, ghi âm chú đã mất không hai tạ thóc, lại phải nhiều lần có mà bán nhà. Mà chú được cái gì, lại còn mang oán mang thù nữa chứ. Nghĩ thế chẳng ai hơi đâu, thế là chúng nó thoả mái cấu véo đục khoét làm giàu. Chú nói thật với cháu nhé, chú buồn lắm, cú lắm. Không phải vì chúng nó giàu mình nghèo mà ghen ăn tức ở, buồn vì một nỗi chẳng ai còn tin vào ai nữa. Đến bét dem như cái thằng cầm thước đi đo ruộng, giúi cho hai nghìn là cũng được thêm hai mươi phân đất ruộng. Thế thì còn gì là công bằng, còn ra thể thống gì nữa hả cháu. Có lẽ cái ông NVL viết bài báo "Những việc cần làm ngay" đã hiểu thấu lòng dân.... (Xem tiếp)
letrungtiet | 20 October, 2009 10:10
Đợi anh, đợi đã bao chiều,
khi ánh đèn giát vàng trên phố vắng,
con thơ chờ ngủ quên trên đi văng.
Chờ anh, chờ đến bao giờ,
câu hát nào thay lời anh mỗi tối,
vết son nào còn in trên vai anh.
Anh cố tìm phương nào ảo ảnh,
khi hạnh phúc chúng mình tan loãng chảy về đâu.
Ôi tổ ấm sao quá mong manh,
đường khuya em mưa một mình,
còn anh, anh quên lối về bến đỗ.
Ôi hạnh phúc như những câu thơ,
Tình em không phai bao giờ,
chờ anh, mong anh nhớ về bến xưa.
Ngôi nhà ấy ta đã yên vui,
chở che cho con nên người,
trời xanh tan đi những ngày bão tố.
Ôi hạnh phúc như những câu thơ,
tình em không phai bao giờ,
chờ anh mong anh nhớ về bến xưa
Phối khí: Quốc Lâm
Trình bày: NSUT Hồng Liên
letrungtiet | 19 October, 2009 16:37
letrungtiet | 17 October, 2009 21:27
5
Mới ngày nào Toan và Các đi chọn mua con lợn cái giống bụng cao, mông to, lông đuôi nở và mười hai vú đều nhau, đúng với tiêu chuẩn đực phê sề đõn, ngoảnh đi ngoảnh lại con lợn đã đến kỳ phá chuồng, lồng lên kêu ừn ựt. Tiếng kêu của nó rung từ trong ngực khùng khục như tiếng tôi vôi.
Toan chẳng biết tại sao con lợn đang ăn đang lớn vù vù bỗng nhiên dở chứng, chị chạy vội sang nhà Các tả lại và kể rõ đầu đuôi. Các há cái miệng đỏ lòm rộng nghuếch như miệng ếch cười chảy nước mắt nước mũi. Chợt Các nghiêm nét mặt hỏi:
- Thế chị nhìn cái "dậu" của nó thế nào?
Toan vô tư hỏi như đứa trẻ chưa hiểu hết những từ ngữ phổ thông:
- Cái dậu là gì hả chú?
Các tặc lưỡi:
- Ồ cái chị này, con đực với con cái nó khác nhau ở chỗ nào, thì nó là cái ấy đấy.
Toan đỏ mặt ngượng ngùng. Các tiếp:
- Thế thì chị phải đến nhà ông Phệch "lợn bồng" xem thế nào không có lại lỡ lứa lợn thì phí quá. Ông ấy nhìn cái là biết ngay, chuyên gia đấy chị ạ.
Nhắc đến ông Phệch, Toan đã run hết cả chân tay. Gọi là ông vì Phệch già trước tuổi chứ thực ra Phệch chỉ hơn Toan có một hai tuổi là cùng. Toan bảo với Các:
- Chú Các này, tôi nhờ chú nói hộ với ông Phệch giúp tôi, tôi ngại lắm. Chẳng nói thì chú cũng biết chuyện giữa tôi với Phệch ngày trước rồi còn gì.
- Thôi được rồi - Các nói rất nhanh - Chị cứ về đi.
Nói đoạn, Các đứng dậy tức tốc đi ngay...
Toan ở nhà pha nước chờ. Thời gian chờ đợi sao mà lâu thế. Trong khoảng tĩnh lặng, có những sự việc tưởng rằng đã qua không bao giờ trở lại nữa, bỗng dưng xuất hiện. Hình ảnh ba người dân quân tự vệ khoác súng trường đi sau và Phệch xách túi quần áo chăn màn đi trước.
Đó là những ngày phong trào thanh niên "Ba sẵn sàng" như đạn xếp sẵn trong nòng súng, chờ một tiếng gọi là tất cả hướng ra tiền tuyến. Thế mà Phệch dám chống lại lệnh lên đường nhập ngũ, như vậy Phệch khác gì một viên đạn thối, làm hóc cả băng đạn rồi còn gì. Chính Toan đã đọc lệnh đưa Phệch đi cải tạo dưới huyện đội. Nghe dân làng kháo nhau là Phệch thương vợ bị bệnh đau cột sống, khó mà nuôi được con nên Phệch đã trốn nghĩa vụ quân sự. Toan cũng biết thế nhưng không thể làm khác, chiếu cố cho Phệch còn người khác thì sao.
Toan đang liên tưởng vẩn vơ, Tiếng Các oang oang từ chuồng lợn:
- Chết thật, không khéo thì lỡ mất lứa lợn đây này bà Toan ơi.
Toan vội vàng chạy ra:
- Thế nào hả chú?
- Chị trông cái dậu của nó kia kìa - Các thè lưỡi ra rồi vội thụt vào ngay - Các tiếp: Tôi đến đúng lúc ông Phệch dắt con đực giống xuống làng Thiếc, ông ấy bảo: "Tý quay về ngay, ai chứ chị Toan thì không thể chậm trễ được". Chị Toan này, tuy cái nghề của ông ấy không được sang nhưng cũng kiếm ra phết. Chị cứ ở nhà chờ nhé, tôi phải về đi chăn trâu. Dứt lời, Các thoăn thoắt luồn qua bờ ao về nhà.
Toan ngồi chờ mãi, ấm nước chè đã lạnh ngắt mà không thấy khách. Chị ra ngoài hiên nhìn ra phía bờ ao, những bụi tre trên bờ ao nhà chị có những cây đã ngả xuống là là mặt nước, ngọn tre như cái chổi khổng lồ quét xuống mặt ao bèo làm trống khoảng nước rồi bèo lại lấp kín vào. Có những cây măng mọc lên nửa chừng phải rẽ ngang vì vướng những bụi dong dày đặc. Có những bụi tre như đậu chênh vênh trên mặt nước vì lở đất, chỉ còn những rễ tre lằng ngoằng cắm xuống mặt nước. Nếu gia đình chị có một người đàn ông thì đâu đến nỗi. Rõ ràng sự thiếu hụt đàn ông trong một gia đình là nghiêm trọng vô cùng, Toan thừ người thở dài. "Thế là thế nào nhỉ? Ai chứ chị Toan thì... Tại sao lại chị Toan thì... Mình có phải là người để anh ấy phải mang ơn đâu? Có oán là khác". Đang nghĩ vẩn vơ thì ông Phệch dắt lợn đến. Tiếng con lợn đực giống khìn khịt từ ngoài ngõ, nó lao đầu về đằng trước lôi ông Phệch đổ người lếch thếch theo sau. Con lợn đực sục sạo như đã phát hiện thấy điều gì, hai bên mép nó sùi ra hai đống bọt trắng, mõm nó nhai liên tục để lộ ra mấy cái răng sắc nhọn như mầm mía, mùi hôi của con vật làm Toan thấy lờm lợm trong cổ.
- Chào chị - Vừa nói Phệch vừa nghế vào chuồng lợn, chăm chú nhìn con lợn nái tơ - Nghe chú Các nói...
Phệch chưa nói hết câu Toan đã cắt lời ngay:
- Vâng mời anh vào xơi chén nước chè đã.
- Thôi chị ạ, chị thứ lỗi cho, tôi có uống nước chè đâu. Con lợn nhà mình thế này là đúng kỳ rồi đấy, sớm quá thì không đậu mà muộn quá thì ít con chị ạ.
Phệch cứ chị chị tôi tôi làm Toan thấy ngại. Chẳng biết Phệch còn nhớ kỹ những lời buộc tội của chị ngày ấy hay không, nhưng chị thì nhớ lắm. Chị nhớ nhất lúc Phệch đứng nghiêm nghe chị đọc lệnh triệu tập, hai mắt Phệch đỏ hoe, môi run run nói: Thế này thì thằng bé nhà tôi chết đói mất thôi, mẹ nó nằm đấy ai cho nó ăn? Bố mẹ tôi đã già yếu quá rồi, anh em thì ở riêng "Kiến giả nhất phận", thật khổ cho tôi quá.
Toan muốn xoá đi sự ác cảm ấy nhưng không biết nói cách nào, Phệch đã nhảy vào chuồng lợn. Phệch đặt tay vào lưng con lợn cái, con lợn đứng im, hai chân sau bãi ra như muốn khuỵu xuống. Toan cũng cảm nhận được sự hưng phấn của con lợn. Phệch bảo:
- Chị mở cửa chuồng lợn ra đi.
Toan ngượng ngiụ nhấc cánh cửa gỗ, con lợn đực lao vội vào ngay. Con lợn cái thấy động chạy vòng quanh chuồng, Toan cũng phải nhảy vào để chặn. Toan vừa nhảy vào thì con lợn cái đã đứng im. Cùng lúc con lợn đực đặt cả hai chân trước lên lưng con lợn cái, một cuộc giao phối thật tự nhiên của hai con vật. Toan ngoảnh mặt ra vườn không dám nhìn nhưng hai chân cứ muốn khuỵu xuống, không đứng vững nổi. Đã quá lâu rồi sự khao khát da thịt đàn ông của Toan như không còn nữa, như đã chết tự lâu rồi, thế mà lúc này bất chợt nó bùng lên mạnh mẽ. Toan thấy cơ thể chị đang tê dại từng phần. Chẳng biết nó có giống một người chạy bộ đang khát nước hay không, vớ được gáo nước mưa thì cứ uống, muốn đến đâu thì đến, hình như Toan cũng đang ở tình trạng ấy. Toan dựa lưng vào thành chuồng lợn, người Toan mềm yếu hẳn, đôi mắt Toan dại đờ khép lại. Hình như Toan không muốn nhìn thấy những thứ gì khác ngoài sự đam mê đến lạ lùng đang ruồng giãy trong cơ thể Toan. Thấy lạ Phệch tiến sát vào nói nhỏ:
- Kìa chị Toan, chị làm sao thế?
Toan như người đang chới với sắp ngã vớ được cánh tay anh, Toan kéo anh sát vào người run rẩy:
- Anh ơi, em chết mất anh ơi, em ngã đây này. Em không thể chịu được nữa rồi. Thành ơi, hãy tha thứ cho em Thành nhé...
6
Cơ chế thị trường tràn đến nông thôn. Bè cá lồng trên sông của Tố cũng bắt đầu kinh doanh có lãi. Buổi đầu với một lồng cá ba chục mét vuông, thức ăn chủ yếu là cỏ, phân trâu và phân lợn mà Tố cũng có số tiền đủ để nhân rộng lên thêm ba lồng cá nữa. Vụ thu hoạch sau, Tố thu được hai mươi lăm triệu. Tố vay thêm ngân hàng và bạn bè để úp thầu khu ao trước làng. Kế hoạch của Tố là nuôi ba ba và trai giống là chủ yếu, sau mới đến cá. Nhiều người trong làng nghĩ rằng đầu óc Tố lúc này đang có vấn đề. Ba ba thì còn có người mua chứ trai thì rẻ thối, rẻ tha mà bán cho ai được cơ chứ.
Một buổi chiều trời se se lạnh, từ phía cánh đồng Búi Đế có một người phụ nữ mặc bộ quần áo bà ba đen, dáng người thon thả và có vẻ thanh nhàn, dắt một đứa con trai bốn tuổi, đang đi về phía làng. Tố đang mò mẫm dưới ao bới cống để lấy nước từ mương vào, quần áo đang bê bết những bùn là bùn. Bất chợt hai mẹ con người thiếu phụ xuất hiện. Tố ngước nhìn lên, trong tích tắc ngỡ ngàng Tố reo lên:
- Ơ, Vi. Em ...
Vi cũng sướng run lên chạy ra sát bờ:
- Anh, anh làm gì ở đây, ủa sao anh gầy và đen thế, con chúng mình đây này.
Tố định tìm chỗ bờ thấp để nhảy lên, thì Vi đã chìa tay để kéo Tố lên. Tố xua tay:
- Tay anh bẩn.
Vi vẫn chìa tay và lom khom người.
- Kệ, bẩn cũng được.
Tố chồm lên đến bờ, Vi ôm chầm lấy anh khóc nức nở. "Em nhớ anh quá không thể chịu được, ôi giời ơi, anh già đi nhiều thế này này. Bảo vào trong ấy sung sướng thì không chịu, cứ thích lặn lội bùn đất kia. Nghĩ đến anh em sốt cả lòng cả ruột đây này". Thằng bé bốn tuổi quần áo thật gọn gàng chững chạc, đứng trố mắt nhìn. Tố tiến gần sát nó, anh cúi xuống đặt nụ hôn vào trán thằng bé, nó không biết là người thân, vội lùi ra xa. Tố khẽ nói:
- Ba xin lỗi con, tay ba bẩn con ạ. Thôi hai mẹ con về nhà đi.
- Anh cũng về luôn chứ?
Tố vội nhảy xuống để đắp bờ và nói với lên:
- Hai mẹ con về trước, anh về ngay đây.
- Dạ.
Đã lâu lắm Tố không được nghe tiếng "dạ" êm ái của vợ anh, lúc này lòng anh rộn lên một niềm vui khó diễn tả. Vừa đắp bờ, những ý nghĩ và dự định cho công việc sắp tới của anh lại khoắng lên trong đầu.
Về đến nhà, Tố đã thấy vợ anh đang vo gạo ngoài bể. Thằng cu Tú ôm chặt lấy lưng mẹ, miệng nó cứ "má đi về", "má đi về". Vi thấy tiếng động ngoài ngõ, chị vội ngẩng lên thì ra là cuốc xẻng trên vai Tố gõ vào nhau chan chát. Bốn mắt gặp nhau, Vi thấy mừng rồi bất chợt nỗi ân hận trong lòng Vi lại trỗi lên. Vi nhớ lắm câu nói của mẹ Tú khi Vi vừa bước vào nhà: "Tôi tưởng chị không bao giờ trở về cái nhà này nữa...". Rồi bà quay vào phía cái giường, nơi bố Tú đang ngồi phủ phuc thở. Bà không hề chào hỏi, đon đả với đứa cháu nội đang ngơ ngác. Có thể là bà nghĩ đứa bé này chắc gì đã là con của Tú, Vi đoán thế. Ông cụ đang ngồi phủ phục vội ngẩng đầu dậy, đôi mắt chớp chớp "Kìa bà..." rồi ông tròn miệng thở. "Con về đấy hả Vi..." Ông lại ho, những tiếng ho yếu ớt nhưng dồn dập. Ông cố lấy tay vẫy vẫy mẹ con Vi vào gần. Ông vòng tay ngang eo lưng thằng bé "Cháu..." Ông lấy hơi hít thật sâu cho đủ độ dài câu nói "Cháu nội của ông... đây hả con...". Vi khẽ buông một tiếng "Dạ" ngọt ngào như sương sớm chảy mát lòng ông. Tuy mắt nhìn ông cụ nhưng Vi cũng nhận ra cái nguýt dài trên miệng mẹ chồng. Khi Vi xin phép các cụ đi thay quần áo để nấu cơm, Vi còn nghe rõ tiếng nói với theo của mẹ chồng: "Đúng là Rẻ cùi bán dáng". Ở miền Nam từ bé, lại là con nhà đài các chỉ biết ăn với học, Vi không hiểu ý câu nói ấy như thế nào, nhưng chắc chắn nghĩa câu nói ấy không có thiện chí với Vi rồi. Vi thầm nghĩ, nếu Vi không thương anh Tố, nếu Vi không nghĩ đến tương lai của con thì... Xin lỗi nhé, báu bở gì mà quay về cái mảnh đất tứ mùa thiếu đói và tối tăm văn hoá.
Tố vứt vội cuốc xẻng vào góc chuồng trâu, anh bước vội về phía sân bể. Vi nói nhỏ với thằng cu Tú "Con chào ba đi con". Thằng bé khoanh tay chưa kịp nói gì thì Tố đã xốc nó lên hôn rối rít lên mặt lên cổ nó. Nó buồn quá, giơ hai bàn tay chặn vào má anh. Anh giơ nó lên cao, dụi mặt vào bụng nó làm nó cười khanh khách...
Bữa cơm tối nhà Tố đã chuẩn bị gần xong, Vi vẫn còn đang lúi húi thổi lửa, chị đã giục chồng:
- Anh sang mời các chú đi, không có các chú lại ăn cơm.
Tố đang ôm con ngồi cạnh bếp xem vợ thể hiện tài bếp núc, đó là một trong những điều phải biết của con gái dòng dõi quý tộc. Anh đứng bật dậy, hai bàn chân đập vào nhau giậm xuống đất, giơ tay đặt lên trán như hiệu lệnh của quân đội:
- Rõ.
Ông nội của Tố sinh được bốn người con. Bố Tố là cả tên Nhân, sau đến chú Đức, chú Tâm và cô Nghĩa. Tố có hai anh em, Tố và em gái tên là Hoa, Hoa làm ở Nông trường chè Mộc Châu, đã có chồng và hai con, hiện đang sinh sống và làm việc ở trên ấy. Chú Đức có bốn người con thì cả bốn đều đỗ Đại học, hai anh lớn đã ra trường và đã có việc làm, còn Lụa vừa ốt nghiệp Đại học Luật Hà nội, Nhung năm đầu Đại học Sư phạm. Gia đình chú Tâm thì khác. Chú đi bộ đội nhiều năm ở miền Nam, sau chuyển ngành làm chuyên viên cao cấp của Nhà nước, chú chỉ có một người con trai độc nhất, chú cũng cho vào bộ đội để rèn luyện tác phong. Còn cô Nghĩa theo chồng vào Thành phố Hồ Chí Minh.
Mâm cơm được bày ra thịnh soạn, toàn những thứ lạ. Tố chắp hai tay vào nhau trịnh trọng:
- Con mời bố mẹ, cháu mời các chú xơi lưng cơm mừng cho vợ chồng cháu - Tố ngại không muốn nói cụ thể là mừng cho vợ chồng đoàn tụ hay mừng có đứa con trai.
Ông Nhân cố nhổm dậy dựa lưng vào tường lấy hơi:
- Mời các chú, tôi có ăn được gì đâu.
Ông Tâm chìa tay về phía mâm cơm:
- Mời bác.
- Mời chú.
Bà Nhân ngồi im không nói một câu gì, bà chỉ với đũa gắp hai miếng thịt gà đặt vào hai bát của ông Đức và ông Tâm. Ông Đức nói:
- Kìa bác, bác dùng đi, cứ kệ chúng em.
Ông Tâm nói:
- Ơ kìa hai cháu, ăn đi chứ. Các cháu kiếm đâu ra cái món mực tươi này đấy, cả tỏi tây và cần tây nữa. Cái món này lâu lắm rồi chú không được thưởng thức, từ ngày về hưu đến giờ. Thằng cu Tú đâu, ra đây ngồi với ông cho má mày xới cơm nào.
Thằng cu thấy lạ vội rụt chân vào, một tay bám chặt lấy cánh tay mẹ. Vi rụt rè nói với các ông:
- Cháu nó lạ đấy các ông ạ.
Được cơ hội để Tố khoe vợ với các chú, Tố mừng rỡ nói:
- Thưa bố mẹ, thưa các chú. Tầu Thống Nhất dừng ở ga Nha Trang nửa tiếng, nhà con vội vàng vào tận nhà máy đông lạnh để mua mực tươi và mấy con tôm hùm này đấy.
Ông Tâm gắp miếng mực tươi và miếng cần tây cho vào miệng. Ông gật gật đầu:
- Ờ khéo, khéo, xào khéo lắm, ăn nó phải ròn và ngọt như thế này chứ. Nhiều người không biết làm, cái tỏi cái cần cứ nát nhèo nhẽo.
Tố như nở từng khúc ruột, còn Vi chỉ "Dạ, dạ" cho phải phép. Chị không muốn được khen trước mặt mẹ chồng. Điều chị nghĩ là có căn cứ, bởi vì từ chiều bà Nhân đã có những câu mát mẻ chị rồi. Y như rằng, sau câu khen của chú Tâm, bà Nhân cài ý của mình vào luôn:
- Ôi giời! Chẳng biết ăn nó ngon đến đâu? Chứ cái mùi của nó khai khai bỏ cha.
Vi đang bón cho con ăn, chị như bị cái tát ngang mặt, nhưng chị phải cố nhẫn nhịn. Chị còn nhớ như in câu nói của ba dặn chị trước khi lấy chồng: "Một sự nhịn là chín sự lành con ạ". Mình là con nhà gia giáo, không thể xử sự theo kiểu thất học được. Tố như bị cụt hứng trước câu nói của mẹ, anh nói như cố để xua đi không khí nặng nề:
- Cứ như mẹ thì cả đời không biết miếng ngon là gì.
Ông Tâm không muốn kéo dài sự tranh luận vô bổ ấy, ông chuyển hướng câu chuyện:
- Bác Đức này, em hỏi hơi tò mò, nhưng em là chú nó, em cũng cần phải biết.
- Có gì chú cứ nói, tôi có giấu chú chuyện gì đâu.
- Bác ạ. Cái Lụa nhà mình đã tốt nghiệp rồi, ở nhà chờ việc thì đã đành, nhưng em đoán chắc phải có chuyện gì nên thằng cha Các cọc cứ ra vào với con Lụa luôn xoành xoạch như thế chứ.
Ông Đức ghé sát vào tai ông Tâm thì thầm:
- Tôi nói chú phải giữ kín nhé.
- Vâng. Bác lại còn không tin cả em nữa hay sao?
Ông Đức đằng hắng:
- Cả các cháu nhé, chú nói đây, bỏ đây thôi. Hở ra là ảnh hưởng em nó nhiều lắm - Tố và Vi cứ vâng vâng, dạ dạ, gật lia lịa - Tôi thấy tay Các nói chuyện với cái Lụa lâu lắm, gần hết cả buổi chiều. Tôi nghĩ chẳng lẽ cái Lụa lại ăn phải bùa phải ngải của tay Các, tôi mới tra hỏi, nó trả lời tỉnh bơ và ca ngợi tay Các hết lòng.
- Bố đừng nghĩ sai về chú Các, chú ấy là người đứng đắn, đàng hoàng. Con nói thật nhé, chú Các là người có tâm với dân với nước lắm đấy bố đừng tưởng. Đây bố cứ xem cuốn Nhật ký của con khắc biết, rồi con sẽ kể cho bố nghe vì sao chú Các tìm gặp con.
*
Thị trấn Vân Hoà nơi Lụa về thực tập đã chìm nghỉm vào biển đêm. Sương nhờ nhờ trắng đục như dây bột làm cho những ngọn đèn đường vàng ệch. Càng khuya càng tĩnh lặng mà Lụa không sao dứt nổi những suy nghĩ trong đầu để chui vào giấc ngủ. Chỉ còn một đêm nay nữa thôi, sáng mai cô sẽ phải ra bến xe sớm để về trường hoàn tất bản luận văn tốt nghiệp. Cô kéo chăn chùm đầu, nhắm mắt cố gạt đi những suy diễn vẩn vơ. Chưa kịp tĩnh tâm thì chẳng biết những ý nghĩ từ đâu lại ùa về khoắng loạn trong đầu Lụa. Đã năm tháng rồi, đêm nào Lụa cũng phải đấu tranh dằn vặt đặt lên bàn cân hai con đường mà bắt buộc Lụa phải chọn một. Hoặc là Lụa nghe Quang, Lụa chỉ cần làm bản luận văn bình thường như đã học là Lụa sẽ tốt nghiệp, bố Quang sẽ xin cho Lụa làm việc ở Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố, Lụa sẽ có đủ tiền tài địa vị và hạnh phúc. Hoặc là Lụa cố tình làm bản luận văn theo ý tưởng riêng của mình thì có thể Lụa sẽ mất Quang, có thể Lụa sẽ không bảo vệ nổi luận văn tốt nghiệp. Nếu như vậy là Lụa đã phụ công bố mẹ nuôi Lụa ăn học mười bảy năm trời, có thể Lụa sẽ phải về quê vì bố mẹ đã già rồi, chắc gì đã nuôi nổi Lụa ăn học thêm được nữa. Tự nhiên Lụa thấy rùng mình và gai gai cột sống khi nhớ đến buổi chăn trâu chiều mồng hai tết ở quê ngày bé. Con trâu cái già nhà Lụa đã no cỏ, nó thũng thẵng đi từ bờ đê về nhà. Đến sát cổng ngõ nhà ông Dự thì nó dừng lại, khuỳnh hai chân sau, cong đít đái như xối nước. Nước tiểu bắn tung toé vào quần diện tết của Lụa và rổ rau muống nhà ông Dự đang để bán. Mùi khai nồng nặc vỡ ra khắp không gian. Lụa vớ vội cái que rào vụt lấy vụt để vào mông con trâu nhưng nó không nhúc nhích. Nó cứ đứng ì ra như tượng đá, hai chân sau khuỵu xuống xả một bãi phân thùm lùm to như cái thúng sơn úp. Lụa đang loay hoay không biết làm thế nào thì một bàn tay to như tay hộ pháp nhào tới, túm lấy tóc gáy dí mặt Lụa xuống sát đống phân trâu. Bây giờ mỗi khi nghĩ đến, Lụa lại phát nôn phát oẹ và lạnh toát người về cái hơi nóng bốc lên từ đống phân trâu. Thế mà bao nhiêu người cứ đứng nhìn không ai dám lên tiếng bênh Lụa. Họ đều sợ ông Dự là kẻ bất trị. Chỉ có chú Tâm nhà Lụa đang nghỉ phép ở quê nghe tiếng đã chạy đến đương đầu với ông Dự. Nhớ đến chú Tâm, Lụa quên sao hình ảnh và tấm lòng của chú. Chú có tài, có đức, trung thực, nhiệt tình và tốt bụng vô cùng. Lụa đã từng quen biết khá nhiều người, cả già. cả trẻ, cả quan chức hẳn hoi, nhưng người như chú Tâm thì thật hiếm. Ngày Lụa đi đại học, chú cứ dặn đi dặn lại Lụa - Dù học vấn có cao hay thấp, làm quan lớn hay nhỏ cũng phải có cái tâm, phải giữ lấy nếp nhà "Đói cho sạch, rách cho thơm" cháu ạ...
Buổi tối Ký túc xá của trường vui như hội trại. Qùa đặc sản ở các nơi thực tập mang về chẳng kém phiên chợ ngày ba tháng tám nhà quê. Giường tầng trên chuyển xuống giường dưới, phòng nọ dồn đến phòng kia. Nào bánh gai, bánh tét, bánh cáy, nào kẹo vồ, kẹo rồi chó, kẹo mạch nha, thôi thì đủ các loại. Chưa kể đến khoai sọ, khoai môn, bí đỏ, bột tinh lỉnh kỉnh dưới gầm giường. Chỗ thì dăm ba nữ sinh cười rinh rích kể đủ các loại chuyện yêu đương, chòng ghẹo, tán tỉnh, rồi ấn tượng với anh nọ, anh kia. Chỗ thì vài anh chàng luật sư tương lai ôm đàn, gõ chậu ngêu ngao hát. Tốt hơi nhất là anh chàng Thanh toác át cả tiếng đàn. Anh ta lôi từ trong va ly ra một cái túi bóng rồi oang oang: "Thưa các vị đây là thần dược chữa được bách bệnh, nào ung thư, viêm đường hô hấp cấp, nào ếch si ma, tổ đỉa, vảy nến, á sừng, hiệu nghiệm nhất là trị tiệt nọc bệnh xỏ tay túi quần, ai cần thì đăng ký, cơ sở chúng tôi xin miễn phí". Tất cả cùng rũ ra cười vì ai cũng hiểu đó là các lọ thuốc ĐEP hay ASA gì đó, mà Thanh toác mua được ở xí nghiệp Dược phẩm của huyện. Riêng Lụa không được hoà vào không khí tưng bừng và thân mật ấy. Cô ngồi bó gối ở giường để tiếp Quang. Quang là người yêu của Lụa, anh đã tốt nghiệp Đại học Bách khoa hiện đang công tác ở một cơ quan khoa học thuộc Bộ. Quang yêu Lụa đến say đắm bởi Lụa có cái đẹp của một thiếu nữ nông thôn, Lụa dịu dàng đôn hậu và tốt bụng với tất cả mọi người. Chỉ có hai cá tính mà anh cho là điểm yếu của Lụa. Một là Lụa hay mặc cảm về hoàn cảnh giữa hai gia đình. Bố Lụa là nông dân, còn anh lại là con của một quan chức tầm tầm cỡ thành phố. Lụa lúc nào cũng từ chối mọi sự giúp đỡ về vật chất của anh. Hai là Lụa quyết đoán đến nhất nhất. Anh không thể ngờ được một thiếu nữ hiền dịu, dễ thương như Lụa mà lại có cá tính mạnh mẽ đến vậy. Chính vì thế anh phải tìm đủ mọi lý lẽ để cản Lụa từ bỏ ý định bảo vệ luận văn liều lĩnh ấy. Quang chủ động:
- Thôi được rồi, anh sẽ ủng hộ em, nhưng em phải tự biện hộ và bảo vệ đề tài của mình, giả dụ anh là người phản biện.
Lụa cười rất tươi và reo lên:
- Ôi anh.
Hai bàn tay Lụa cầm lấy hai bàn tay anh lắc lắc. Từ ngày anh quen Lụa, yêu Lụa chưa bao giờ anh thấy Lụa vui đến thế. Đôi môi Lụa tươi mềm và mịn như cánh hoa lựu, hai mắt sáng bừng lên trong vắt, không đăm chiêu tư lự như những tháng gần đây. Hình như mỗi người có một góc khuất riêng, niềm vui riêng ngoài cái chung mà không dễ ai cũng khai thác được. Anh cảm thấy tự hào về sự quan trọng của anh lúc này đối với Lụa. Anh phải cố nghĩ ra những câu phản biện thật hóc búa để làm vừa lòng Lụa. Anh nín thở, bặm môi rồi bật ra những tiếng khô khốc :
- Căn cứ vào đâu mà em nghĩ ra Luật bảo tồn nhân phẩm.
Bao nhiêu ý nghĩ của Lụa đã tích tụ nén căng như một ống dẫn nước bị nút chặt giờ được mở ra, Lụa nói một thôi dài không vấp váp:
- Căn cứ vào tính bản thiện trong mỗi con người đang bày bán khắp các nơi để đổi lấy vật chất. Trong các cuộc mua bán ấy được bọc gọn trong một từ đó là "chạy". Họ chạy lên lương, chạy tội, chạy việc làm, chạy không phải làm... Chạy đủ thứ, không việc gì là không có "chạy". Những thứ do chạy thu về gọi là "màu". Có những người đang làm ở chỗ này ít "màu", "chạy" sang chỗ khác nhiều "màu" hơn.
Quang xen vào:
- Nhưng em ơi, em nói thế là ảnh hưởng chung rồi đấy. Khi đời sống xã hội được cải thiện thì người ta mới nghĩ đến nhau chứ, những cái mà em đang lo lắng ấy là quan hệ giao tiếp thông thường, họ trả công, trả ơn nhau chứ có gì. Làm nghề nào, ăn nghề ấy mà. Ai không làm theo là lạc lõng, là hâm đơ, là vô ơn và hỏng việc. Nay em phải "chạy" thì ngày mai sẽ có người khác "chạy" đến em. Tất cả chỉ là nợ nần nhau thôi. Đúng không?
Lụa ngồi ngay lên, mắt dõi ra cửa như sợ có ai vào cắt ngang cuộc đối thoại.
- Anh nói thế là sai rồi, không phải ai cũng được người ta chạy. Những người không có một chút chức quyền gì thì màu ở đâu? Em hỏi anh, ai "chạy" đến họ?.
- Nhưng em phải nhớ rằng: Hối lộ dưới năm trăm nghìn mà không gây hậu quả nghiêm trọng thì không sao cả nhé*, tức là vẫn còn nhân phẩm, em hiểu chưa?
- Âý thế em mới cần làm luận văn đề tài của riêng em, chứ cứ làm như đã học thì là bắt trước à. Cần gì phải bảo vệ.
- Cứ cho là em nghĩ đúng đi, nhưng đây là sự thật mà chúng ta không nên nói, ảnh hưởng trước hết cho mình rồi đến xã hội.
* Bộ luật Hình sự 1-7-2000 đã qui định.
Lụa quặt tay về đằng sau cặp lại mái tóc, đôi vồng ngực nhô về phía trước căng đầy sinh lực. Cô nhìn thẳng vào mắt Quang:
- Chúng ta không được lẩn tránh sự thật anh ạ. Nhiều tai hoạ của chúng ta bắt nguồn từ chỗ chúng ta tự lừa dối mình. Em nghĩ rằng, tham ô vài chục tỷ, vài trăm tỷ đồng, chỉ thiệt hại về vật chất, còn ăn hối lộ lại làm mất lòng tin, em hỏi anh có phải mất lòng tin là mất tất cả không ?
Quang gãi gãi đầu nói rất nhanh cắt ngang lời Lụa, anh không muốn phải bị động trả lời:
- Đành là thế nhưng đây không phải là đề tài tốt nghiệp của học sinh trường Luật.
- Thế anh bảo học sinh trường Luật ra trường để làm gì?
- Khi ở trường thì học luật, khi ra trường thì làm theo luật chứ không phải để bắt bẻ, để nghiên cứu luật.
- Thế có nghĩa là như một cái máy?
Quang bắt đầu thấy nóng mang tai về sự bướng bỉnh của Lụa. Quang nói không cần ý tứ nữa:
- Thôi thôi thôi. Em cứ như bà cụ non ấy. Này anh nói thật nhé, người ta biết thừa những điều em nói, nhưng với một đất nước việc ấy quả nhỏ không cần phải bận tâm.
Lụa nhìn xoáy vào mắt anh, cô tỏ ra bất bình với những suy nghĩ của Quang:
- Việc lớn thế mà anh bảo quá nhỏ ư. Giả sử một người, một ngày được người ta "chạy" đến mười lần, mỗi lần bốn trăm chín mươi chín nghìn (tức là chưa đủ để kết tội), anh tính xem, vài triệu người được người ta "chạy" như thế thì sẽ là bao nhiêu? - Môi cô trề ra - Ờ, chỉ nhỏ như lỗ châm kim mà làm xẹp cả quả khinh khí cầu khổng lồ, một cái nhìn lệch lạc có thể làm hỏng cả một con người đấy, anh ơi.
Quang càng bực vì biết Lụa đang ám chỉ mình. Anh cố trấn tĩnh để kiên trì cản Lụa. Với giọng hơi mát mẻ và nạt nộ anh nói:
- Ai dám đứng ra bảo vệ luận văn cùng em, có mà đầu củ chuối.
- Em sẽ tự bảo vệ. Anh có ý xúc phạm thầy cô rồi đấy, họ không như anh đâu.
Quang thấy mặt nóng lên, trong người bừng bừng như uống rượu, máu chạy nhanh hơn, mang tai giật giật. Nhưng anh phải bình tĩnh để đạt được mục đích.
- Em có nghĩ đến tương lai không? Liệu có cơ quan nào dám nhận em vào để em bới móc người ta?
Lụa không chịu nổi thái độ yếu hèn của Quang nữa, cô nói theo phản xạ:
- Chẳng qua là anh đang nghĩ đến cái "màu" của nhà anh, và...- Lụa kịp dừng lại, tiếng nói của cô âm âm giọng lạc đi - Thôi không nói nữa - Rồi Lụa bưng mặt khóc như một đứa trẻ. Hai vai Lụa cứ rung lên, rung lên, từng đợt, từng đợt.
Quang như bị một luồng điện chạy khắp nguời, anh định văng một câu bất cần nhưng tình yêu đã bịt miệng anh và giật anh trở lại. Ý nghĩ trong đầu anh lại lớn dần lên "Lụa ơi, em không hiểu anh rồi, em muốn phá bỏ cái mà anh đang nâng niu gìn giữ. Cả em nữa, rồi chúng mình sẽ khổ. Em muốn nghiên cứu, tìm tòi, muốn làm gì thì làm, nhưng trước hết phải nghĩ đến mình đã chứ ". Quang xoay người đứng dậy, anh thấy bùi ngùi và khó xử trước nước mắt người yêu. Anh lom khom đặt bàn tay lên đôi vai mảnh mai và nóng hôi hổi của Lụa. Lụa ngoay ngoảy quay mặt vào tường. Ở phòng bên, tiếng đàn, tiếng hát, tiếng gõ thìa, gõ chậu lại rộn lên...
Quang về rồi, Lụa bước ra khỏi phòng, một làn gió từ hướng Hồ Tây thổi về mát rượi trút sạch những lá vàng còn đậu trên vòm lá. Cô nhìn về phía cố hương, nơi ấy có bố, mẹ, chú Tâm và những người thân yêu đang chờ Lụa...
Đấy Nhật ký của nó như thế đấy, chú bảo, con gái con lứa nó có rắn gan rắn ruột không hả chú. Nó bảo:
Hôm con mới ra trường về nghỉ ở nhà thì bất ngờ chú Các xuất hiện giữa cửa buồng, cứ như người chui từ dưới đất lên. Con đang nằm đọc sách ở giường sợ quá vội choàng dậy định kêu thì chú Các cười. Miệng chú rộng thật nhưng cũng có duyên và hiền đấy chứ. Chú bảo:
- Bất ngờ quá phải không cháu? không sao, đừng có sợ. Chú biết cháu là người nắm luật rất rõ, và gia đình mình là gia đình cơ bản có nền nếp nên chú mới tìm đến cháu.
Nghe tiếng nói và điệu bộ thật thà của chú Các, Lụa hoàn toàn yên tâm. Lụa mời chú ra nhà ngoài xơi nước và lắng nghe chú nói:
- Lụa này, chú
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
- Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội
- Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Hà Nội
- Trưởng ban Liên lạc hội viên các Nhà văn Hà Nội - khu vực Hà Đông
| « | March 2010 | » | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Su | Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa |
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | |
| 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 |
| 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 |
| 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 | 27 |
| 28 | 29 | 30 | 31 | |||