HỘP THƯ DỰ THI THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI HỘP THƯ SỐ 6

By le trung tiet

HỘP THƯ DỰ THI THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI

HỘP THƯ SỐ 6

 

Chúng tôi đã nhận được bài của các tác giả:

1) Nguyễn Ngọc Tung - Vĩnh Phúc – 9 bài

2) Trần Đức Thái - Thái Bình – 8 bài

3) Đặng Quang Vượng - Hà Giang – 10 b ài

4) Trương Ngọc Lan - Hà Nội – 10 bài

5) Phi Đông Hạ - Phú Thọ – 9 bài (cả 2 lần gửi 9 bài)

6) Phan Tấn Thu - Bến Tre – 2 bài

7) Nguyễn Văn Thi -  Quảng Ninh – 1 bài

8) Anh Tú – Hà Nội – 1 bài (gửi lần 4)

9) Nguyễn Anh Tuấn - Hà Nội – 10 bài

10) Đinh Công Thành – Bà Rịa V.T – 1 bài

11) Đoàn Văn Thanh – Hà Nam – 3 bài (gửi lần 2)

12) Lê Duy Thái - Quảng Ninh – 3 bài (gửi lần 2)

13) Nguyễn Thanh Nam - Cần Thơ – 10 bài

14) Nguyễn Danh Đối – T.P Hồ Chí Minh – 11 bài

15) Bành Thanh Bần – Hà Nội – 3 bài

16) Phạm Văn Trang – Bình Thuận – 3 bài

17) Bùi Minh Trí – Hà Nội – 5 bài (gửi lần 2)

18) Hữu Minh Cương – Hà Nội – 1 bài (gửi lần 3)

19) Nguyễn Thị Minh Lý - Quảng Bình – 6 bài

20) Vũ Xuân Quảng – Hà Nội – 3 bài

21) Đỗ Hoàng – Hà Nội – 3 bài (gửi lần 2)

22) Vũ Xuân Mỹ – Hà Nội – 1 bài

23) Lương Sơn - Hưng Yên – 4 bài

24) Đỗ Biện - Hà Nội – 3 bài

25) Lê Quang Định – Hà Nội – 3 bài (gửi lần 3)

26) Nguyễn Tiến Lộc – Hà Nội – 3 bài (gửi lần 2)

27) Nguyễn Hoàng Hiệp - Nghệ An – 3 bài (gửi lần 2)

28) Hồ Luân - Quảng Nam – 2 bài

29) Du An – Điên Biên – 4 bài

30) Phạm Ngọc Linh – Hà Nội – 4 bài

31) Lê Miên Ca – Lâm Đồng – 3 bài

32) Trần Hạnh Thu – T.P Hồ Chí Minh – 3 bài

33) Phạm Hồng Lý – Vĩnh Phúc – 5 bài

34) Xuân Trường – T.P Hồ Chí Minh – 3 bài

35) Lê Ngọc Đích - Bắc Giang – 11 bài

36) Lê Thị Ngọc Liễn - Quảng Nam – 5 bài

37) Đặng Thái Quý – An Giang – 11 bài

38) Nguyễn Hoàng Đức – Hà Nội – 1 bài

39) Hà Huy Hiệp – Hà Nội – 10 bài

Ban Sơ khảo chúng tôi chân thành cảm ơn và mong tiếp tục nhận được các bài thơ dự thi của các tác giả.

                              Ban Sơ Khảo

More...

CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN

By le trung tiet

 

 

HÀN THUỶ GIANG

 

Đêm Thu

 

Tiếng suối sâu rừng vắng

Chợt thức giấc. Trăng bàng bạc giữa trời

Người ra đi từ chiều

Hẳn đã tới đỉnh núi

Người ở lại trắng áo trăng ngàn

Ngả lưng nơi bậc đá

 

Đêm hiền từ. Người ấy thôi kinh kệ

Buông tràng hạt. Tay chạm vào đá sần sùi

Đá lạnh ướt đêm Thu để lại

Từng bậc nâng chân bước sớm mai

 

Đêm Thu ấy người trước lần bậc đá mãi vào trăng sáng

Người sau dừng lại nghe tiếng suối rừng

Đi đâu nữa

Vầng trăng đã vằng vặc vượt qua đỉnh núi

Dòng suối đã tràn trề mãi chảy dưới khe sâu

 

Quá khuya. Người ấy ngập ngừng nhìn thấy

Có phải ánh trăng đang rọi thẳng xuống mấy nóc nhà

Sườn núi bên kia

 

 

Trở lại

 

Rồi cũng qua tháng ngày lưu lạc

 

Bạn về cánh rừng thuở trước

Lối mòn quanh co không bóng người

Mặt hồ vỗ sóng. Thẳm sâu cô tịch

Vẫn đây những quả đồi khổ hạnh vô danh

 

Như một bài ca cổ cất lên trên đất xám buồn

Bạn sinh ra với lời nguyện trên đầu một vầng mây trắng

Mây ngày xưa đã bay không trở lại

Bạn mãi bước đi đơn độc nơi cõi đời

 

Bạn kết thân với rừng cây dãy đồi hồ nước

Chắp tay nguyện cầu cho những người bạn vô danh bình an

Rồi Thu đến với làn sương thấm qua manh áo mỏng

Bạn chợt day dứt trước số phận một ai

 

Ngày trở lại. Mây trắng long lanh đáy nước

Ở trong nhau mà vời vợi xa nhau

Tiếng thầm thì chợt lao xao từ con đường đất

Mùa này đám hoa dại đã nở trắng chân đồi

 

 

Một

 

Bạn đã nghe giữa cảnh núi đồi im lặng

Một giọng nói không thay đổi

Bạn ngắm lá khô nơi lối mòn ven rừng

Mà biết cả bầu trời trên cao…

 

Đấy. Tình thương đã tỏ bày trong tất cả

Ngọn đồi kia dòng suối này cùng khung cảnh hoang sơ

Một nụ cười gần gũi một cách chia

Cơn giận dữ cùng đôi lần yếu mềm day dứt

Những di tích hoang phế bên con đường rừng ngập lá uá

 

Bạn cũng tỏ bày tình thương ấy trong im lặng ra đi

Những bước chân nhỏ bé

Dáng người nhỏ bé giữa rừng

 

Giữa cảnh tĩnh mịch của núi đồi

Giọng nói ấy không hề thay đổi

Vẻ đẹp của chốn này là hàng cây cổ thụ

Và ngôi miếu vô danh an tịnh trầm tư…

 

 alt

 

 

BÙI VIỆT PHƯƠNG

 

Đêm tháng Chạp

 

Đêm Ba mươi tháng Chạp người đi đâu?

Đào nở muộn ta ngắm cành với Tết

Lá dong gửi điều gì xanh thao thiết

Nếp cái thơm hồn hậu muôn đời

 

Vại dưa hành rổ rá chổi tre ơi

Mai là Tết có biết gì không đấy?

Suốt năm trời thuỷ chung ta tin cậy

Cứ bạc cứ mòn nứt gãy với riêng ta.

 

Và xa xa hương rơm rạ của đồng

Vẫn âm ấm bàn chân người đứng cấy

Nước thì lạnh mạ mầm thì tin cậy

Đên nay người có kịp về không?

 

 

 

Chợ xuân

 

Nụ đào chen chúc trên cành

Ngày xuân nhộn nhịp nên thành chợ xuân

Mùi hương nếp áo nếp quần

Bao cô gái giấu mùa xuân trong mình

Ngày xuân ai cũng trùng trình

Hoa hương mua đủ vẫn hình như quên

Chợ xuân chỉ thấy mình em

Bước đi rất vội chẳng quên điều gì

Lá dong dài một nét mi

Ta đem về gói được gì hả em

Tranh Đông Hồ ít người xem

Trắng đen thì rõ nhập nhèm là tôi

Chợ xuân đã vãn thật rồi

Mà chưa nói được một lời chào xuân!

 

 

NGÔ NGỌC THĂNG

 

Thăm đền Mẫu

 

Lần theo bậc đá lên cao

Khói nhang con thắp hoá vào núi non

Vòng tròn nối những vòng tròn

Hình như trăm bọc hiện hồn về đây

Núi non ôm ấp rừng cây

Ấm hơi mẹ dưỡng đất này ngàn xưa

Ình ình sấm động rừng thưa

Sông Thao trắng nước sáng bờ mưa giăng…

 

 

Chị tôi

 

Mẹ mất sớm

Nuốt nước mắt vào trong

Chị nuôi các em ăn học

Bát cơm sẻ ba đồng tiền chia bốn

 

Gió giật đêm đông

Tấm chăn em đắp

Chỗ rách chiều ngang nơi sờn chiều dọc

Hơi ấm chị gom

Lúc còn… lúc mất

Giữa căn nhà dột nát

Các em say giấc nồng

 

Nước mát phù sa

Xanh đồng con gái

Miếng cau trên tay ai

Vàng dọi

Nắng cuối thu vớt vội

Chị tôi

lấy chồng.

 

 

 

 

NGUYỄN ĐĂNG THUYẾT

 

Hồn đá Đồng Văn

 

Đưa em lên Mã Pì Lèng

Vượt sông Nho Quế đá chen bản Mèo

Cổng trời đứng dốc cheo leo

Đá lăn lóc đá mây trèo đầu mây

 

Thung sâu nắng nuốt đường cày

Sống trên lưng đá tàn thây đá vùi

Áo Chàm vắng bóng bờ vui

Mồ hôi trĩu lệch vai gùi núi xa

 

Bơ vơ lạc ánh trăng ngà

Đồng Văn - Mèo Vạc sao sa mặt đường

Bơi trên bể đá tìm sương

Quyền uy uẩn khất… nhà Vương Chí Sình(*)

 

Chờn vờn Quản Bạ - Yên Minh

Khau Vai thổn thức chợ tình đá đeo

Chênh vênh bản đá ngang đèo

Hồn chìm trong đá trời treo mặt người.

Hà Giang 9-5-2010

 

* Vương Chí Sình: Vua Mèo đại biểu QH khoá 1 và 2.

 

 

 

ĐINH HẠ

 

Khóc cha

 

Giờ nấm mộ đã lên xanh cỏ

Con mới ngồi khóc để tang cha

Bến trần gian luân hồi phận số

Thương làm sao! Quạnh quẽ ngôi nhà

 

Thời trai trẻ cha dành cho đất nước

Buổi bình yên vui với ruộng đồng

Cuộc đời dẫu bao điều mất được

Tình thương con như biển như sông

 

Giờ nấm mộ đã lên xanh cỏ

Khói hương thơm ngỡ bóng cha về

Nước mắt ngược vào lòng… thương nhớ

Cầu linh hồn đừng lạc bến mê

 

Người của đất lại về với đất

Bao nguồn vui sướng khổ hết rồi

Mai là một trăm ngày cha mất

Cõi vĩnh hằng… vĩnh biệt cha ơi!

 

 

 

 

BẠCH ĐẰNG

 

Những ngày xa quê

 

Không biết đã bao nhiêu lần

Ngồi quây quần bên những người đồng đội

Tôi kể về giếng nước quê tôi

 

Không biết đã bao nhiêu đêm

Nằm gác chân lên những người đồng đội

Tôi kể về con gái quê tôi

 

Tôi đã đi trăm nơi

Từ trung du núi rừng biển cả

Nhưng có bao giờ lòng tôi không nhớ

Đến cái làng nho nhỏ của tôi

 

Trong giấc mơ tôi bắt gặp nụ cười

Rất tinh nghịch của cô hàng xóm

Chỉ nuôi trong lòng mối tình thầm lặng

Nào ai đã dám ngỏ lời

 

Tôi mơ về những buổi trưa hè

Những buổi bạn bè rủ nhau đi tắm

Đuổi bắt nhau suốt trưa không chán

Mắt đỏ ngầu bợt trắng tay chân

 

Tôi mơ về những buổi thả trâu

Đất cày vỡ đắp thành “lô cốt”

Chia “địch” “ta” bắt đầu vào cuộc

Ném nhau suốt chiều chẳng phân thắng thua

 

Kể hết làm sao kỷ niệm tuổi thơ

Tôi yêu nhất cũng vì nhiều kỷ niệm

Trước giây phút bước vào trận đánh

Tôi lại nhớ về làng nhỏ quê tôi.

 

 

More...

“Hưu nông dân” NGÀN NĂM MƠ ƯỚC

By le trung tiet

“Hưu nông dân” NGÀN NĂM MƠ ƯỚC

Phóng sự của Lê Trung Tiết

Thế là từ nay những người nông dân từ 60 tuổi trở lên đã có phụ cấp tuổi già đó là nguồn an ủi đầu tiên mở đầu cho quỹ lương hưu nông dân sau này của xã Thanh Văn huyện Thanh Oai T.P Hà Nội. Cứ tưởng rằng đó chỉ là mơ ước quá xa vời của cả đội ngũ lãnh đạo xã từ những năm 90 của thế kỷ trước. Không biết bao nhiêu lần vận động nông dân đóng quỹ bảo hiểm và phúc lợi nhưng có bao nhiêu lần cán bộ xã đến với dân để tuyên truyền thì bấy nhiêu lần trở về ngao ngán. Chẳng những họ không đóng góp mà họ còn hiểu sai ý tưởng tốt đẹp này. Nào là “Khác gì góp tiền chơi phường hụi” nào là “Mơ tưởng hão huyền xa vời phi thực tế” nào là “Đóng thế thì thà bỏ ống còn hơn muốn rút ra lúc nào thì rút” vân vân và vân vân. Trước tình hình khó khăn ấy Đảng uỷ UBND xã phát động phong trào cán bộ đảng viên trong xã gương mẫu góp quỹ trước. Lúc đầu đóng bằng thóc không được nổi 3 tháng lại phải trả lại thóc. Rồi tiếp những lần sau nữa “Ý tưởng vẫn chỉ là mơ tưởng”.  Suốt từ khi nuôi ý định lo cho tuổi già của những người nông dân quê mình đến nay đã 20 năm có lẻ ông Quang Văn Thỉnh chưa lúc nào thấy lòng mình thanh thản. 9 khoá liền tham gia trong đảng bộ xã (1 khoá Phó Bí thư 8 khoá là Bí thư Đảng uỷ) ông Thỉnh cùng cộng sự trăn trở ngày đêm quyết tâm thực hiện bằng được chế độ lương hưu cho nông dân.

Không còn nghi ngờ gì nữa sáng ngày 19 - 4 - 2011 từ các xóm ngõ các con đường liên thôn của xã Thanh Văn bỗng trở nên tấp nập khác thường rất đông các cụ cao tuổi chống gậy đổ về UBND xã để dự Lễ Khai trương Quỹ Bảo hiểm và Phúc lợi nông dân.

Bà Phạm Thị Vẻ 74 tuổi rơm rớm nước mắt: Ở độ tuổi của chúng tôi còn sống được bao lâu nữa mà chắc gì đã trụ được đến 80 tuổi để có phụ cấp của nhà nước. Khoảng thời gian từ 60 đến 80 tuổi nhiều cụ như tôi vẫn phải lam lũ ngoài đồng đánh vật với cày bừa liềm cuốc những ngày đông tháng giá. “Đói thì đầu gối phải bò chứ biết làm sao”. Có được quỹ này là nguồn an ủi rất lớn đối với người già chúng tôi.

Cụ Vũ Văn Tương 83 tuổi thắc mắc: Tôi là cán bộ xã già yếu nghỉ việc trước năm 1987 nên không có lương hưu chỉ được hưởng trợ cấp của xã. Nếu Uỷ ban xã không có quỹ hoặc quỹ ít thì chúng tôi sẽ rất thiệt thòi đi bệnh viện vẫn mất tiền không được ưu đãi một chút gì. Đặc biệt chúng tôi lại không được hưởng trợ cấp dành cho những người trên 80 tuổi. May nhờ có quỹ này tôi cũng giải toả được nhiều nỗi băn khoăn của riêng mình.

Ông Trần Đình Chua 64 tuổi xúc động: Cầm sổ lĩnh tiền phúc lợi hàng tháng tôi không biết nói gì hơn lời cảm ơn Đảng uỷ UBND đã nhiều đêm trăn trở lo cho người già những việc thật là ý nghĩa. Suốt cả đời làm nông dân tôi chẳng bao giờ mơ đến ngày mình có lương hưu.

Trả lời trước báo giới ông Trần Văn Tuấn - Chủ tịch UBND xã kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị lâm thời Quỹ bảo hiểm và phúc lợi nông dân xã Thanh Văn cho biết:

- Xuất phát từ nguyện vọng của nông dân và thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo xây dựng nông thôn mới nên chúng tôi quyết tâm xây dựng quỹ có ý nghĩa nhân văn này. Bước đầu chúng tôi chỉ trả 100 nghìn đồng một người /tháng (thực hiện đúng nghị quyết của đảng bộ phát triển những bước thật vững chắc). Chúng tôi cố gắng những tháng tiếp theo mỗi cụ sẽ nhận được từ 300 nghìn đồng /tháng trở lên thế mới gọi là lương chứ.

alt

Niềm vui của tuổi già khi nhận sổ hưu

- Thưa ông: Mỗi người chỉ đóng có 20 nghìn đồng /tháng vậy làm cách nào để trả cho họ 100 nghìn đồng 1 tháng chứ chưa nói đến 300 nghìn đồng…

- Âý đấy! Câu hỏi này đã cản bước chúng tôi cách đây hơn 20 năm trước. Bây giờ thì khác rồi chúng tôi có nguồn quỹ tích luỹ rất lớn. Ngay lúc này chúng tôi có thể trả luôn 300 nghìn đồng 1 tháng cho 196 sổ cũng được. Để có nguồn tích luỹ này cán bộ xã của Thanh Văn phải là những người rất tâm huyết với nông dân dám gắn cả sinh mệnh chính trị của mình vì nông dân.

Có 3 nguồn chính để tạo thành quỹ: Một là - Từ 20 năm trước chúng tôi đã tiết kiệm ở các công trình cơ bản dự án phúc lợi công cộng như xây dựng các trụ sở nhà văn hoá đường trường trạm đến nghĩa trang bê tông hoá kênh mương vv… Tất cả các công trình này chúng tôi đều tự hạch toán tự mua nguyên vật liệu tự thiết kế thi công không mời thầu khoán nên chúng tôi không mất tiền chênh lệch cho các nhà thầu. Bản thân các cán bộ xã cũng không hưởng phần trăm phết phảy gì.

Nguồn thứ 2 là do người dân tham gia đóng bảo hiểm 20 nghìn đồng 1 tháng trong khoảng thời gian liên tục 20 năm liền và thu làm hai lần trong năm (tháng 5 và tháng 11). Tổng số tiền phải đóng trong 20 năm là 4 8 triệu đồng. Nếu đóng một lần sẽ được giảm 800.000đ. Khi đến 60 tuổi hàng tháng người tham gia bảo hiểm sẽ đựơc hưởng lương hưu và các phúc lợi khác. Những người từ 16 đến 40 tuổi sẽ đóng góp quỹ tự nguyện. Còn các đối tượng từ 40 tuổi trở lên sẽ bắt buộc tham gia (để đến tuổi 60 họ có đủ 20 năm đóng bảo hiểm). Nếu thành viên đang hưởng bảo hiểm qua đời (mới chỉ hưởng được 10 năm bảo hiểm chẳng hạn) thì Quỹ bảo hiểm sẽ trả lại cho thân nhân người đó số tiền gốc đã nộp của 10 năm còn lại. Trường hợp thành viên chưa đến tuổi hưởng bảo hiểm nhưng không may qua đời sẽ được hoàn trả 100% số tiền đã đóng bảo hiểm. Cả hai trường hợp qua đời đều được hưởng số tiền tuất là 1 triệu đồng. Sẽ có sự “động viên đặc biệt” vì Quỹ mới đi vào hoạt động nên những người trên 60 tuổi vẫn được tham gia để hàng tháng họ được lĩnh lương hưu. Bởi thế có nhiều gia đình con cháu chắt gom góp vào đóng luôn một lần cho cha mẹ. Tới nay đã có 347 người tham gia và hầu hết mọi người đều đóng luôn một lần (4 triệu đồng).

Nguồn thứ 3 là các cơ quan tổ chức cá nhân hảo tâm quyên góp ủng hộ. Nhờ có quỹ này chúng tôi đã tận dụng để sinh lời bằng nhiều cách an toàn và hiệu quả thì mới có ngày hôm nay “Ngày hội của nông dân xã Thanh Văn” chứ.

- Chúng tôi muốn biết quan điểm của Bí thư Đảng uỷ về tính bền vững của Quỹ bảo hiểm và phúc lợi nông dân ?

Ông Quang Văn Thỉnh cười rất tươi:

- Cho đến lúc này tôi dám khẳng định rằng Quỹ bảo hiểm và phúc lợi nông dân của xã chúng tôi sẽ bền vững và ngày càng phát triển lớn mạnh thành Quỹ lương hưu nông dân. Chúng tôi đã chuẩn bị rất kỹ cho ngày khai trương này từ 20 năm trước kia. Danh ngôn xưa có câu “Có bột mới gột nên hồ” chúng tôi có bột rồi chỉ việc quấy lên là thành hồ lẽ gì không làm được. Ai mà làm cho Quỹ này đổ bể dù bất cứ dưới hình thức nào thì người đó sẽ mắc tội rất lớn với dân với nước đặc biệt là không thể tha thứ được đối với lòng mình.

                                                                                                              LTT

 

alt

Các cụ già chống gậy đến nhận sổ hưu

More...

CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN

By le trung tiet

CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN

 

HOÀNG BẠCH NGA

 

Ga cũ - chiều xưa

 

Cái chiều xưa ấy đã lùi xa

Kỷ niệm buồn vui cũng nhạt nhoà

Đâu đó lênh đênh miền ký ức

Đổ về nhuộm tím những chiều… ga

 

Cái chiều xưa ấy - cái chiều xưa

Mây gió hợp tan đã mấy mùa

Ga cũ bao lần ai có đợi

Một người lẻ bóng dưới trời mưa?

 

Xuôi ngược đường đời tôi đã qua

Bao chiều dừng lại trước bao ga

Bao lần tôi cố quên ga cũ

Nỗi nhớ trong tôi lại vỡ oà!

 


Em - Đàn bà

 

Em chưa gặp A-ra-gông

Để được tìm trong “Đôi mắt En-xa”

Một bông hoa của tình yêu bất tử

Em chưa gặp Nê-ru-đa

Để đắm mình trong một trăm bản Xô-nát ngợi ca

Em - Đàn bà

Giữa những người đàn bà

Mà khi yêu nhịp tim thổn thức

Yêu hết mình

Như ngọn lửa không bao giờ tắt

Như sóng dâng trào khi biển nổi phong ba

Em - Đàn bà

Giữa những người đàn bà bất hạnh

Nuốt vào tim

Giấu khổ đau vào tóc

Đôi vai gầy gánh một đầu hy vọng

Và một đầu cháy bỏng yêu thương

Em - Đàn bà

Cõng lời ru đi qua năm tháng

Như cơn gió mồ côi

Lang thang giữa cánh đồng

Vẽ lên trời những giấc mơ con trẻ.

 

Em người đàn bà và em tập làm thơ

Để viết lên những vần ướt đẫm nước mắt

Những vần thơ không mở đầu và không  lời kết

Như vầng trăng quay quanh trái đất

Dẫu khuyết tròn cũng chỉ một phía đơn côi

Em - Đàn bà

Người đàn bà đi giữa hai thế hệ

Dìu hoàng hôn và dẫn lối bình minh

Người đàn bà chỉ biết có hy vọng

Chỉ biết sống quên mình cho tất cả

Trên đời chỉ có đàn bà hoá đá

Lồng lộng giữa trời xanh

Em và những người đàn bà

Như những bông hoa dại mong manh

Dù bị chen lấn giữa muôn vàn cây cỏ vẫn toả ngát hương đêm vẫn sắc màu rực rỡ

Ẩn náu trong đài hoa

Một khát khao trăn trở

Muốn vươn mình tìm “Đôi mắt En-xa”

Tìm bản Xô-nát tình yêu trong hạnh phúc Nê-ru-đa…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÔ ĐẮC THẢO

 

Bài thơ đồng làng

 

Em mê mẩn phố phường xanh đỏ

Giữa đêm hội làng

Bỏ mặc tôi chốn cũ

 

Em có mang đi được

Cánh đồng xưa vàng đợi hoàng hôn

Có câu hát trĩu chiều tan nắng

Và dấu xưa ước vọng thuở vuông tròn?

 

Em có mang đi được

Cánh đồng xưa dấu chân bùn đất

Có hơi thở phập phồng mùa mùa gieo hạt

Bát cơm nào không thấm vị đắng cay?

 

Ơi em chuyện đồng xưa vẫn còn nguyên vẹn

Nhãng đêm phố xá xa mờ

Tôi cùng em lạc miền xa nhớ

Bài thơ đồng làng mãi ở trong mơ.

 

Thuỵ Lâm 1-2011

 

 

 

 

Chiếc nón lá

 

Em xuống phố không quên chiếc nón

Những ngày qua mưa nắng đến trường

Ruộng lúa xuân đang thì phơi lá nõn

Bình minh thức dậy giục tan sương

 

Nắng sớm mai dọi trên má thắm

Vành nón nghiêng giấu ước vọng tình đầu

Có ai đó đem lòng say đắm

Đã mấy năm hẹn buổi cau trầu

 

Ai đã đến quê em ngàn cao lộng gió

Đường gập ghềnh vai nặng lá rừng xanh

Đã chăm chuốt đan từng cọng nhỏ

Đem niềm vui theo lá nghiêng vành?

 

Nón che đầu mỗi khi em xuống phố

Rừng lá kia lất phất ánh phồn hoa

Đường tấp nập giữa bộn bề xe cộ

Có thương về bóng núi trời xa!

 

1-2011

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHÙNG GIA VIÊN

 

Đêm dòng sông

 

Dòng sông ngủ rồi con dế vẫn lang thang

Lách rách mưa đêm cuối thu trời trở lạnh

Bàn tay mình nắm bàn tay xiết mạnh

Bất chợt nỗi buồn rơi xuống bơ vơ

 

Đêm tháng mười sao ướt lặn vào thơ

Làm ẩm mốc lời thề đem giấu kín

Bước qua cầu tiếng ru nghiêng ai vịn

Gió đông về dòng cũ có hanh hao

 

Sóng ngủ rồi làm rớt một giọt sao

Tháng năm xa thương điệu hò mái lẻ

Sao biết được đường đi bao ngả rẽ

Đêm dòng sông giấc ngủ gửi hai bờ.

 

 

 

 

Ru đời

Tặng chị N - cựu thanh niên xung phong

 

Chị ngồi chẻ mía muối dưa

Cuối mùa cải đắng đêm thừa hanh hanh

Lay lay loáng gió động mành

Nhà đơn lơi cửa gợn xanh tháng mười

 

Sáu mươi năm vẫn một người

Hoá hương hoa cải vàng tươi gửi màu

Ru đời cho trọn kiếp sau

Lời yêu khoá chặt thêm nhàu phận dưa

 

Hanh trời phơi mảnh áo mưa

Bay nồm gấp lại chuyện xưa héo lòng

Con thuyền - đổi bến - rời sông

Một thân che chắn gió đông kéo về.

 

4-2008

 

 

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN VĂN SÁCH

 

Quan họ vườn

 

Về thăm Kinh Bắc - Từ Sơn

Nghe canh Quan họ trầu thơm em mời

Ngoan sao cái miệng em cười

Cái giọng em nảy cái lời em vang

 

Dẫu không tiếng trống cung đàn

Vẫn như ai vỗ nhịp nhàng nên “bông”

Đầy vườn hoa trái thơm đong

Mà như đang ở cuối sông đợi người

Mà như “bèo dạt mây trôi”

Cành khuya đỡ bóng trăng lơi cuối thềm…

 

Người về “đến hẹn lại lên”

Người ra ruộng cấy trầu têm khăn chờ

Tương Giang con nước lững lờ

Vít cong cành trúc qua bờ tìm nhau.

 

 

 

 

VŨ CÔNG DẦN

 

Hoa cải

 

Ngái nồng hương cải bay bay

Vàng trong nỗi nhớ những ngày xa quê

Cải ngồng mắm cáy chiều về

Nấu rồi thiếu phụ lên đê ngóng chờ…

 

Dập dờn đôi bướm vương tơ

Lạc vào vườn cải bao giờ mới ra

Cuốc kêu tiếng vọng lan xa

Gọi mùa đông tới giữa hoa cải ngồng

Nồng nồng ngai ngái thơm bông

Ôi da diết quá nỗi mong quê nhà!

 

Tha hương trôi bước đường xa

Chợt nghe hương cải nghĩ là ở quê

Hoa vàng từng vạt triền đê

Nao nao nỗi nhớ đông về cải ơi!...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÔNG PHƯƠNG ĐIỆP

 

Chốn quê

 

Cũng là cầu thực tha phương

Mỗi người một nẻo tìm đường sinh nhai

Chiều nghe tin nhắn trên đài

Nửa rưng rưng nhớ nửa ngài ngại xa

Cả đời tần tảo bôn ba

Mới tôn được một nếp nhà bình yên

Không quyền chức không bạc tiền

Bao năm bái vọng tổ tiên ông bà

Núm nhau gửi đất quê nhà

Vẫn đau đáu nỗi ruột rà tình thân

 

Ngày về tưởng niệm tiền nhân

Họ hàng nội ngoại quây quần ấm êm

Sum xuê cây trái trước thềm

Chõng tre nước vối trầu têm mặn nồng

Nén tâm hương lạy tổ tông

Khói thơm lan toả níu lòng người xa

Mái đình bến nước gốc đa

Ngàn năm sau mãi vẫn là chốn quê.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẠM XUÂN SINH

 

Dòng sông quê

 

Nhớ thuở nào chăn trâu

Ra bờ sông tắm mát

Cùng bạn chơi đuổi bắt

Giữa dòng nước trong xanh

Những đêm hè trăng thanh

Giọng đò đưa xuôi ngược

Như thả vào con nước

Tình quê hương mặn nồng

Và ngày nào ra sông

Cùng em bên bến nước

Dưới trăng thề nguyện ước

Trước lúc mình chia xa

 

Bao năm đi đánh giặc

Nay trở lại quê nhà

Ra bờ sông gợi nhớ

Những kỷ niệm thời xa

Đâu rồi nơi hò hẹn

Đâu rồi nơi nguyện thề

Đâu dáng hình quê cũ

Của một thời xưa xa

Nay bao điều mới lạ

Bao cảnh vật đổi thay

Dòng sông quê hôm nay

Vẫn trong xanh như ngọc…

 

 

 

 

More...

HỘP THƯ DỰ THI THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI HỘP THƯ SỐ 5

By le trung tiet

HỘP THƯ DỰ THI THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI

HỘP THƯ SỐ 5

 

Chúng tôi đã nhận được bài của các tác giả:

1) Đặng Cương Lăng - Hà Nội – 5 bài (gửi lần 2)

2) Nguyễn Thị Kim Quy - Hà Nội – 5 bài

3) Vũ Minh Thoa - Hải D ương – 3 b ài

4) Dương Danh Ninh - Hà Nội – 3 bài

5) Hoàng Trọng Phê - Hà Nam – 5 b ài

6) Nguyễn Hoàng Hiệp - Nghệ An – 4 b ài

7) Nguyễn Trác – Quy Nhơn – 1bài

8) Lê Xuân Đạm - Hà Nội – 4 bài

9) Lê Nguyên Ngần - Hà Nội – 5 bài

10) Phạm Văn Năm - Hà Nội – 4 bài

11) Đỗ Thị Hồi  - Hà Nội – 3 bài

12) Lê Đình Xuất – Đăk Nông – 7 bài

13) Đào Quốc Minh - Hà Nội – 7 bài

14) Lê Tấn Trạch - Hà Nội – 5 bài

15) Tạ Đình Xuân – Đà Nẵng – 6 bài

16) Đào Hanh - Hà Nội – 4 bài

17) Đàm Thanh - Hà Nội – 10 bài

18) Vũ Hùng - Hà Nội – 5 bài (gửi lần 2 - tổng cộng 10 bài)

19) Lê Hoài Minh - Hà Nội – 4 bài

20) Phạm Ngọc Dung - Hà Nội – 4 bài

21) Nguyễn Sĩ Lương – Bà Rịa Vũng Tàu – 3 bài

22) Phan Quang Hiển - Điện Biên – 1 Trường ca (gửi lần 3 quá quy định)

23) Lại Duy Bến - Hà Nội – 4 bài

24) Hoàng Trọng Phê - Hà Nam – 6 bài (gửi lần 2 tổng  cộng  11 bài vượt quá quy định)

25) Mai Hoàng Hanh - Bắc Ninh – 5 bài

26) Lê Đôn - Vĩnh Phúc – 1 bài

27) Phạm Hữu Do - Bình Định – 1 bài

28) Tạ Văn Hoạt - Hà Nội – 4 bài (gửi lần 3 tổng cộng 13 bài     vượt quá quy định)

29) Phạm Tuỳ - Ninh Bình – 3 bài (gửi lần 2)

30) Đặng Hiển - Hà Nội – 1 bài (gửi lần 2)

31) Phan Thành Minh - Đà Lạt – 3 bài

32) Lê Quang Định - Hà Nội – 13 bài (vượt quá quy định)

33) Trần Vạn Giã – Nha Trang – 60 bài (vượt quá quy định)

34) Văn Ê - Hải Phòng – 4 bài

35) Nguyễn Huy Túc - Hải Dương – 2 bài (gửi lần 2)

36) Anh Tú - Hà Nội – 2 bài (gửi lần 3)

37) Hàm Sơn - Đồng Nai – 3 bài

38) Trần Đức Đủ - Bắc Giang – 8 bài

39) Vũ Nhật Chương - Hà Nội – 5 bài

40) Lê Tự Phương – Thanh Hoá – 6 bài

41) Trịnh Chu Sách - Hà Nội – 13 bài (vượt quá quy định)

42) Phương Huệ - Hà Nội – 3 bài

43) Võ Minh Cư - Hà Nội – 10 bài

44) Hàn Thuỷ Giang - Hà Nội – 3 bài

Ban Sơ khảo chúng tôi chân thành cảm ơn và mong tiếp tục nhận được các bài thơ dự thi của các tác giả.

More...

CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN

By le trung tiet

CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN

 

NGUYỄN LÂM CẨN

 

Bản xô - nát về mẹ tôi

 

Nội mất

Ngoại vắng bóng

Mùi hương tìm về

Đậu vào củ khoai lang héo ban thờ

Nấc lên khấc khấc

Những ngày giỗ rót nước lã thay rượu tay không run được nữa

Cha quỳ vái khấn…

Mắt rân rấn

Tia khát khao vụt trong đầu bay ra thành những đường cày sấp ngửa

Đường cày đè lên đường cày

Đè lên mồ hôi nổi váng chua phèn nâu đỏ

Mẹ cấy dảnh mạ như cấy số phận vào rủi may chân cứng đá mềm

Mẹ ru tôi bài hát con cò mộng bay trắng loá ca dao

 

Tôi lớn lên vấp đường cày dúi dụi ngã về phía bình minh

Vấp vào hồn mình

Hoá hòn đất nhão thành bùn non trộn phân trâu đường làng khăm khẳm

Tôi khăm khẳm

Hồn tôi khăm khẳm!...

 

Đeo đá vào đũng quần tôi thành bộ đội hành quân

Chiến trường nổ súng vào tuổi xuân chưa hây hẩy biết mùi con gái

Bom đạn xông vào tôi trận này lại tiếp một trận khác

 

Giờ

Mẹ tôi thành anh hùng bất diệt

Mẹ đi

chập chững đi

rồi run run mà đi…

Dìu mẹ tôi là những hồn chiến sĩ

Trên ban thờ có chuối rượu hương hoa…

 

Hà Nội 20-2-2011

 

Đêm còn đang ở...

 

Đêm còn đang ở trong nhà

Ta nhìn chẳng thấy

Ngỡ là mặt trăng

Ngỡ mặt trời

Ngỡ sao băng

Tưởng là ánh sáng vĩnh hằng… Biết đâu?

 

Đêm còn đang ở trong đầu

Nhìn đâu cũng chỉ cái màu nhá nhem

Cái nhá nhem ấy ai đem trả trời?

 

Đêm còn đang ở trong đời

Sống lâu trong phận quen hơi đói nghèo

Mưa sụt sịt nắng leo heo

Giấc mơ hẫng hụt tong teo về trời

Cái ta quen

lạ với người

Cái ta yêu

hoá tiếng cười người ta!

 

Hà Nội 4-2-2011

 

 

 

Hạt và cây

Tặng các em học sinh thân yêu

 

Ôm vai thầy nước mắt chứa chan

Bốn mươi năm

Về nơi con suối

Chảy hồn Mường trong vắt tuổi thơ

 

Chặt vòng tay ba lăm em thương nhớ

Ấm lên lòng giá rét cuối mùa

 

Thầy không muốn là ngôi chùa

Các em về niệm Phật

 

Thầy muốn mình là hạt

Các em nhú thành cây…

 

Sao các em không hát

Sao các em tay cầm run bát

Chén thơm nồng khoé mắt cay cay?

 

Cẩm Lương 19-2-2011 

 

 

Mắt xưa

Gửi B - học sinh của tôi

 

Mắt em xưa

Men say ủ mật

Thời gian thao thức

cái thời khát khao

lệch mười ngọn núi

và chín con suối theo em thì thào

và con sông Mã cắm trăm con sào…

 

Rồi sớm mưa rào

Rồi chiều nắng đổ

Rồi đêm cóng ngõ

Mắt bay khỏi hồn

Mở ra ngơ ngác hoàng hôn…

 

Lời lời nói đủ điều khôn

Lá rơi phận mỏng bồn chồn rừng hoang

Lắt lay trăng đổ lá vàng

Ai xui trót nhặt để ngang ngửa đời?

 

Thóp ngực tìm hơi

Lửa hư ảo lòng ai nhen nhóm

Quạ tha hồn mắt

bỏ hang Dạc Dìn*

 

Mắt xưa thao thiết ánh nhìn

Soi vào tận đáy cầu xin giọt vàng

Giọt thiêng thấm cõi mơ màng

Gọi tình về chốn mang mang xứ Mường.

 

Hà Nội 22-2-2011

 * Tên một hang núi ở Cẩm Lương.

 

 

THANH ỨNG

 

Đàn sẻ trên đường bê tông

 

Giữa con đường bê tông đô thị hoá

Đàn sẻ đâu sà đến đùa chơi

Chí chách chí chách… con bay con nhảy

Không có cành cây chim cũng đậu chuyền

 

Những chú sẻ mang màu đồng ruộng

Vẫn hồn nhiên như chạy giữa luống cày

Mỏ vẫn rỉa tìm chi trên đường khô khốc

Đầu lắc lư với ngọn gió đâu đây

 

Những chú chim đã quen từ thơ bé

Nghe tiếng kêu thương nhớ thuở nào

Chiếc lồng tre hộp diêm đựng dế

Đựng những trò nghịch ngợm ngày xưa

 

Con châu chấu con cào cào

Miệng huýt sáo cho chim ăn từng bữa

Bỗng một thời chim đi không về nữa

Lòng ai nhớ ngác ngơ

 

Bọn sẻ nhớ người hay lạc đàn bay đến

Ruộng ta xưa thành đường đá mất rồi

Chim cứ vô tư ríu ran đùa nhảy

Ta thành cậu bé tìm tuổi thơ…

 

 

 

Đi trong làng

 

Đường cũ

Lối xưa

Khác

Như chưa hề có rặng mùng tơi hàng ruối gai hoa râm bụt đỏ

Con đường tre xanh gió

Bóng râm trùm cả tuổi thơ

Tiếng chim náo động thời mơ

Gọi bạn…

 

Đường cũ

Lối xưa

Khác

Chân tôi bồng bềnh như đi trên con đường lạ

Tường cao bê tông đá sẻ

Tôi ngập ngừng trước ngõ nhà ai

Xích sắt khoá đồng kêu loảng xoảng

Những âm thanh của con đường khô khát

 

Đường cũ

Lối xưa

Lặng im

Những ngôi nhà bị quây kín quạt máy điều hoà bỏ cái nóng ngoài trời khắc nghiệt

Đi trong làng

Con đường hun hút giữa tường cao

Không tiếng hỏi chào tiếng gọi nhau qua bờ rào có dây tơ hồng óng ả

Chỉ những ngọn gió lạc trời đi hoang trên con đường lạ

Một mình tôi cô độc ở nơi mình…

 

Chiếc xe máy rồ ga lao thẳng vào nhà phun khói

Tôi lạc cả tiếng tôi…

 

Những lùm cây dại

 

Người ta gọi những cây này là cây dại

Không ai trồng mà vẫn tốt tươi

Sống mạnh như tự nhiên dù mưa dầm nắng dãi

Dù đất mấy năm ai bỏ bạc màu

 

Cây dại gọi ra vẫn có tên

Kết vào nhau thành bè thành mảng

Có gai sắc dây leo bò lan nơi sâu nơi cạn

Cũng có hoa có hương nhuỵ nỗi niềm…

 

Biết thế nào là dại là khôn

Thương bông lúa củ khoai bao đời chân thật

Ruộng muống chum tương tháng ngày cơ cực

Đồng quê mặn mòi nước mắt mồ hôi…

 

Khó nhọc bán đi ngỡ sung sướng lên ngôi

Đồng lúa vàng vào giấc mơ xa ngái

Mấy mùa rồi vắng người gặt hái

Đất vì ai phơi nắng dưới trời

 

Không ai trồng mà vẫn tốt tươi

Cây lại đến bên người gần gũi

Ai bảo đây là những lùm cây dại

Sao biết trở về ấm lại đất quê ta…

 

 

 

 

 

 

HOÀI AN

 

Hồn quê

 

Vòm xưa nhặt nắng sẫm phong rêu

Cổng làng ôm ấp dáng quê nghèo

Trăm năm phảng phất thơm rơm rạ

Khắc khoải lòng ai những sớm chiều

 

Năm nao mẹ dắt con qua đây

Rời quê - nắng rọi cổng thêm gầy

Mắt làng dõi bước người xa xứ

Mang cả tuổi thơ những tháng ngày

 

Mang chút hồn quê vào phố cũ

Hương rơm ăm ắp ấm gian nhà

Nét tranh làng cổ còn như thể

Vợi lòng ai đó nhớ quê xa…

 

 

Gió quê

 

Bờ ao hoa mướp vàng theo nắng

Hàng chuối phất phơ đón gió đồng

Trái bầu lủng liểng soi bóng nước

Đường làng xanh mướt dõi mắt trông

 

Lạch cạch khung xưa dệt lụa màu

Vàng như sợi nắng tằm gọi dâu

Mái rơm vách đất còn như để…

Một chút nắng mưa chút dãi dầu

 

Lúa xanh xanh mướt ong bướm bay

Lồng lộng gió quê hương ngất ngây

Mẹ già đón khách từ đầu ngõ

Nắng cũng rưng rưng bóng vai gầy

 

Cơm quê nưng nức hương cốm đồng

Con tôm cái tép ngọt vị sông

Đĩa rau ngăn ngắt xanh lòng khách

Trong vắt rượu quê đượm men nồng

 

Theo bạn về quê đón gió đồng

Say cùng trời đất giữa mênh mông…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DUY KHA

 

Trở lại sông xưa

 

Tôi trở về thăm lại sông xưa

Gập ghềnh tháng năm gập ghềnh nỗi nhớ

Hai triền sông bốn mùa trăn trở

Năm tháng trôi sông vẫn đắp bồi

Thương Giang ơi dòng chảy thảnh thơi

Mềm mại thế mà trói tim tôi chặt

Dẫu thời gian chỉ là chớp mắt

Có bao giờ tôi quên làng Thành cũ rêu phong

Cứ mong ngày gặp lại dòng sông

Gặp lại cánh đồng mùa đông nắng ải

Gặp lại em tôi áo trắng tan trường

Để một đời nhớ mãi Bắc Giang thương!

 

More...

CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN

By le trung tiet

CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN

LÊ XUÂN HIỆP

 

Những người nông dân

làng tôi

 

Những người nông dân làng tôi

ngày dài lam lũ

tay ngập bùn sâu

gieo vần hạt lúa

nấu thơ bằng những hạt ngũ  cốc trên cánh đồng người

để vần thơ nẩy mầm hạt thóc

nuôi những đứa trẻ lớn trên lưng ngửi vị phôi phai ngái gió đồng nội.

Họ yêu thơ

như tình yêu những đứa trẻ của họ.

Họ gieo vần

họ ngân vang.

Cánh đồng thơ nặng trĩu hạt lúa vàng

những câu thơ đi lên từ lòng đất

cũng lại đi về lòng đất.

Có nơi nào thơ ca là nguồn cội trên cánh đồng người?

Có nơi nào củ khoai hạt thóc là nguồn cội của những câu thơ?

Có nơi đâu thơ được lấy để truyền đức?

 

Làng tôi

những người nông dân

chân lấm tay bùn

họ thuộc một câu thơ hay để qu ên đi một câu chửi độc.

Ngày ngày họ đem thơ ra đồng

thả vào lòng đất cho cây lúa củ khoai mỗi ngày một lớn

Ngày ngày họ đem thơ thả trôi theo dòng sông Đáy

mê hoặc tôm cá bầy trâu.

Ngày ngày họ gieo thơ vào những dải đất bồi

nẩy mầm ngô sắn.

Họ ghép thơ vào cái nia cái nong cái mẹt rổ rá dần sàng

vào tiếng giã trầu cụ già móm mém

vào những đường cày ướt đẫm bờ vai.

 

 

 

 

Những người nông dân làng tôi

chưng cất thơ như những mẻ rượu làm say lòng ng ư ời

say cả giấc ngủ những đứa trẻ trên lưng ngửi vị phôi phai ngai ngái gió đồng.

 

 

 

 

Bà ơi!

 

Bà ơi gió mùa đông bắc về

Thổi tràn trên ang nước

Tím tái tàu cau

Rơi rụng lá trầu

Những cơn gió nối đuôi nhau thổi về nguồn cội.

Như cái tên của nó

Rét cuối mùa

Mà người xưa vẫn gọi

Nàng Bân may áo cho chồng

May ba tháng ròng mới được cửa tay.

 

Chiều nay

Cơn gió mùa đông xưa gọi

Câu chuyện cổ hàng đêm bà kể dở

Cô Tấm hay cô Cám là người sống lẽ phải?

Chiều nay con khóc

Cơn gió mùa đông bắc năm xưa bà kể đã cướp đi ông

Trong trận cảm gió mùa trước

 

Năm nay

Cơn gió lạnh về

Từng cơn ho dữ dội tấm thân gầy mảnh bà làm sao chịu nổi

Bà khóc

Bà nhớ chú út vĩnh viễn nằm lại chiến trường xưa

Bà nhớ cha con

Bà kể chuyện ngày cha con hi sinh trên bến Nội

Ngày mẹ con đưa bà đi tránh đạn nửa đường bom rơi mẹ con cũng nằm lại. Ngày con còn đỏ hỏn xanh xao vì khát sữa

Chiều nay con khóc

Con sợ cơn ho sẽ cướp bà đi con mồ côi vĩnh viễn.

 

Chiều nay gió mùa đông bắc về

Tím tê mấy ngọn cau già

Trầu vàng rụng bên ang nước…

Giọt nước mắt cuối nguồn khô cạn rồi

Bà ơi!

 

 

 

Kí ức

 

Tuổi thơ

Con bỏ dở nơi bờ đê có sóng dòng sông Đáy

Từng con trai con ốc con cua làm con đen da dạn nắng

Từng buổi tắm trưa cha biết cha mắng

Cha đánh đòn con bằng thanh nan nứa

Con khóc rồi con hứa

Lời hứa vẫn đi ngược lời cha

Con vẫn thế vẫn thả bò vẫn tắm vẫn đùa giỡn sóng

Vẫn gọi nắng đùa gió của bờ sông.

 

Tuổi thơ

Con bỏ dở ở hàng rào ngoài bãi

Nửa cái gai đâm nhói chân khi xé rào trộm quả

Chân con sưng tấy buốt

Cha vẫn ngồi nhoè mắt cời gai

Cơn sốt đêm kéo cái nhói làm cơn đau con giật mình mộng mị

Từng giấc mơ nửa vời

Con vẫn thấy mắt cha

Ẩn sâu trong đó là nỗi lo đứa con bé dại

Cha

Con lại hứa.

 

Tuổi thơ

Đi qua bỏ dở và chấm hết ngày con vào đại học

Cha lại khóc

Vui và lo nỗi lo con còn bé

Con lại hứa cố lớn

Cha

Tuổi thơ con xa vời trong kí ức.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

BÙI MINH TRÍ

 

Hương thu cốm Vòng

 

Mây bàng bạc sang thu

Khao khát quá heo may về trước ngõ

Lặng chờ nghe rao ngọt cốm Vòng

 

Sương mai tan

Đường nắng nhạt trời trong

Em gánh cốm chở thu vào phố

Hạt cốm xanh lá sen ấp ủ

 

Cốm thơm mềm thu về theo gió

Đôi vai thon hương đồng hương lúa

Tóc em bay gót sen ngõ nhỏ

Cho lòng ai xao xuyến Thăng Long…

 

 

 

Những dòng sông

quê hương

 

Những dòng sông quê hương

muôn đời cuộn chảy

Mang nguồn sống phù sa đất bãi

bồi đắp nghìn năm nên xóm nên làng

 

Những dòng sông lưu hương

rừng xanh núi thắm

Chỉ có lòng sông mới hiểu

nước mắt mồ hôi máu thấm ruộng đồng

tiếng vọng ngàn xưa

khao khát chờ mong…

 

Có ngày sông lặng nghe đất chuyển

tiếng đoàn quân rầm rập trở về

Thuyền chen chật bến

Dân vạn chài cười vang trên sóng

 

Mùa xuân tới

Chim bay theo dòng

Sông trôi xuôi bỗng sáng mênh mông…

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHÙNG PHƯƠNG QUÝ

 

Lời ru thương cả hai quê

 

À ơi!

“Cái cò đi đón cơn mưa

Tối tăm mù mịt ai đưa cò về…”

 

Ru con lòng lại nhớ quê

Mùa đông xứ Bắc tái tê nụ đào

Mây trên cao

Gió trên cao

Ngủ đi con đến khi nào lớn khôn?...

 

Ầu ơ!

“Dẫu rằng cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi…”

 

Thương nhau còn biết tính chi

Cũng liều ôm lấy tình si giữa đời

Quê ngoài thương lắm con ơi

Mẹ đi chưa hết một lời nẻo xa…

 

Con nằm nghe tiếng mẹ cha

Hai quê Nam – Bắc câu à ơi… ru.

 

5-1-2011

 

 

 

Viết cho mẹ mùa Vu Lan

 

Con còn nhớ được gì đâu

Lên ba tuổi đã trắng đầu khăn tang

 

Hình như mẹ rất dịu dàng

Chuyến xe trần thế hai hàng lệ rơi

 

Phương nào tìm mẹ mẹ ơi

Hai mươi bảy tuổi giữa đời mẹ đi

 

Chèo thuyền qua bến từ bi

Mùa Vu Lan biết nói gì lòng con.

 

Mùa Vu Lan 2009

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MẠCH QUANG BÁCH

 

Thăm lại đền Cờn

 

Thăm lại đền Cờn dấu tích xưa

Khói sương chiến địa tiếng reo hò *

Ba quân trống giục lay đền cổ

Đất mẹ Quỳnh Phương mấy triều vua**

 

Nghìn tuổi đền Cờn dãi nắng mưa***

Nét son còn thắm mãi không mờ

Bâng khuâng chân bước xanh hồn đá

Thắp nén tâm hương vái Người xưa.

 

Quỳnh Phương 28-2-2010

 

 



 

 

 

* Thế kỷ 13 Thái sư Trần Quang Khải đánh quân Toa Đô hai xã Quỳnh Phương Quỳnh Lập là vùng chiến địa.

** Các vị vua Lý Thái Tông 1044 Trần Anh Tông 1311 Lê Thánh Tông 1469 khi đi nam chinh đã vào đền Cờn thắp hương. Sau khi chiến thắng trở về đã cho tu bổ lại đền.

*** Đền Cờn có từ thế kỷ 11.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN SƠN

 

Đợi em

 

Tôi trèo bao ngọn núi cao

Qua Tam Thanh động mới vào tới đây

Thấy nàng đứng giữa trời mây

Đã thành tượng đá chẳng quay đầu về

 

Nơi đây thú dữ bốn bề

Hai hàng suối lệ thảm thê hỡi nàng

Nhìn ra biên ải mênh mang

Mỏi mòn đôi mắt bóng chàng biệt tăm

 

Chân trời góc bể xa xăm

Tình xưa đọng lại vết dằm tim tôi

Lòng buồn đau đáu khôn nguôi

Tiếng chim “chót bóp” lặng người từng cơn

 

Hỡi nàng Tô Thị - Lạng Sơn

Có duyên sẽ gặp còn hơn đứng chờ

Tiếc rằng chỉ thấy trong mơ

Lời khuyên liệu đến bây giờ muộn chăng?

 

Xin đừng đứng thế đăm đăm

Hãy tin nhau ở tháng năm cuối đời

Nàng ơi xuống núi cùng tôi

Biết bao con mắt bồi hồi đợi em!

 

Lạng Sơn 8-2000

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

LÊ DUY THÁI

 

Quê xưa rợp bóng chim trời

 

Chào mào liếu tiếu chim xanh

Sáo đen sáo sậu vàng anh chích choè

Rợp chiều cò trắng ngọn tre

Ri hoa se sẻ sân hè ríu ran

Cu cườm gù nắng mơ màng

Biếc chao cánh nhạn dịu dàng xuân mơ

Vút trời chiền chiện ngâm thơ

Chả xanh xếp cánh giả vờ lim dim

Vịt le cốc ngụp đầm sen

Trăng soi vạc lội vọng đêm cuối trời

Đỏ hè cuốc cuốc tàn hơi

Thâu đêm khắc khoải cất lời gọi nhau…

 

“Bóng chim tăm cá” giờ đâu?

 

More...

HỘP THƯ DỰ THI THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI HỘP THƯ SỐ 4

By le trung tiet

HỘP THƯ DỰ THI THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI

HỘP THƯ SỐ 4

 

Chúng tôi đã nhận được bài của các tác giả:

1)         Nguyễn Lâm Cẩn              (Hải Phòng – 7 bài)

2)         Ngô Bích Sen                      (Hà Nội – 1 bài) 

3)         Nguyễn Văn Thơm               (Hà Nội – 3 bài)

4)         Nguyễn Trung Hiếu             (Nghệ An – 5 bài)

5)         Công Phương Điệp                 (Hà Nội – 4 bài)

6)         Hà Cường                                (Hà Nội – 10 bài)

7)         Huỳnh Đường              (Hà Nội – 4 bài) Gửi lần 2

8)         Hà Huy Liêm                 (Nghệ An – 1 Trường ca)

9)         Thanh Ứng                           (Hà Nội – 5 bài)

10)   Bảo Hồ                                  (Qui Nhơn – 1 bài)

11)   Đoàn Văn Khanh                  (Hà Nam – 5 bài)

12)   Nghiêm Sỹ Luyện                  (Hà Tĩnh – 3 bài)

13)   Nguyễn Thiều                          (Hà Nội – 5 bài)

14)   Hoàng Thọ Vực                (Thanh Hoá – 1 Trường ca – 20 bài thơ) Vượt quá quy định.

15)   Nguyễn Trọng Thể    (Hà Nội – 12 bài) Vượt quá quy định.

16)   Bùi Việt Phương                    (Hoà Bình – 3 bài)

17)   Nguyễn Công Thành               (Nghệ An – 2 bài)

18)   Phạm Hồng Oanh                    (Thái Bình – 8 bài)

19)   Phan Tấn Thu                           (Bến Tre – 2 bài)

20)   Anh Tú                              (Hà Nội – 1 bài) Gửi lần 2

21)   Hoàng Bạch Nga               (Đà Nẵng – 6 bài)

22)   Hữu Minh Cương              (Hà Nội – 2 bài) Gửi lần 2

23)   Lê Quang Châu                (Đăk Lăk – 6 bài)

24)   Nguyễn Huy Túc             (Hải Dương – 1 Trường ca – 2 bài thơ) Vượt quá quy định.

25)   Đặng Đình Sơn                (Hà Nội – 9 bài)

26)   Ngô Ngọc Thăng              (Hà Nội – 10 bài)

27)   Phùng Gia Viên                (Hà Nội – 4 bài)

28)   Nguyễn Mạnh Dưỡng       (Hà Nội – 2 bài)

29)   Duy Kha                            (Bắc Giang -1 bài)

30)   Nguyễn Văn Sách             (Hà Nội – 7 bài)

31)   Nguyễn Đăng Thuyết       (Hà Nội – 8 bài)

32)   Lê Xuân Hiệp               (Làng Chùa Hà Nội – 4 bài)

33)   Hoài An                           (Hà Nội – 5 bài)

34)   Ngô Đắc Thảo                 (Hà Nội – 4 bài)

35)   Bùi Đình Hiển                 (Hà Nội – 5 bài)

36)   Trần Phúc Dương            (Hà Nội – 3 bài)

37)   Nguyễn Năng Đác      (Thái Nguyên – 2 bài) Gửi lần 2 bản thảo viết 2 mặt giấy.

38)   Phạm Quang Hiển        (Điện Biên – 7 bài) Gửi lần 2

39)   Đặng Cương Lăng      (Cần Thơ – 3 bài)

40)   Trần Hành                   (Hà Nội – 4 bài)

41)   Vũ Hùng                       (Hà Nội – 4 bài)

42)   Nguyễn Hiếu                (Hà Nội – 3 bài)

43)   Tạ Văn Hoạt                 (Hà Nội – 4 bài)  Gửi lần 2

44)   Phan Liên                     (Hà Nội – 10 bài)

45)   Đinh Hạ                         (Nghệ An – 2 bài)

46)   Mai Văn Phô               (T.P.Huế - 10 bài)  

Ban Sơ khảo chúng tôi chân thành cảm ơn và mong tiếp tục nhận được các bài thơ dự thi của các tác giả.

More...

CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN

By le trung tiet

CÁC BÀI THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐÃ ĐƯỢC CHỌN IN

Ngày 18 - 3 - 2011

 

 

 

CAO DUY BẰNG

 

Sông Lam quê tôi

 

 

Sông Lam chảy qua đời tôi

Lớn ròng thời thơ bé

Một thời chăn trâu ngộ nghễ

Uống giọt phù sa

Nghịch lũ mưa về

 

Dòng sông Lam tắm ký ức chiều quê

Con đê rộng ôm dài neo mùa nước

Nhớ những ngày cùng bạn bè gầy guộc

Mắt hóng sáo diều

Vấp bụi cỏ ven đê

 

Tuổi thơ tôi say mê

Hụp lặn trên sông mình trần đen đúa

Vọc đất xây nhà

Nuôi con dế lửa

Thả dại khờ ven bãi cát triền sông

 

Có năm tháng dòng trôi

Chảy qua đời mẹ bão bùng

Đội sương gió nhặt từng lon gạo một

Có mảnh đêm mẹ lặng buồn thức buốt

Sao đắng cay trôi dạt phía mình

 

Tôi lớn lên

Trách sông vô tình

Chẳng níu lại xô tôi về phía ngái

Để câu thơ gập ghềnh chìm nổi

Nửa đời nhặt bóng trăng quê.

 

 

 

 

 

 

Trở về Hà Nội

 

 

Tôi về thơ thẩn Hồ Gươm

Gặp trong ký ức cánh buồm tuổi thơ

Tôi về bong bóng ngày mưa

Gõ trong tôi tiếng còn chưa kinh thành

Thu nhón gót trời heo hanh

Môi em trái chín cong vành mắt ai

 

Xanh che hàng sấu phố dài

Sen chùa Một Cột nắng nhoài Hồ Tây

Tháp Bút cao viết xanh mây

Kem ly Thuỷ Tạ nợ ngày ngọt môi

 

Tôi về Hà Nội tìm tôi

Khâm Thiên bom đạn một thời nhói đau

Thăng Long ngàn tuổi về đâu

Lạc vào phố cổ xanh màu rêu phong.

 

ĐẶNG HIỂN

 

 

Anh và thơ và quê hương

 

Tưởng nhớ nhà thơ Thế Mạc

 

 

Anh ngợi ca con chim sơn ca nối trời với đất

Nối lòng anh với quê hương

Nhưng chính anh là con chim sơn ca đang hát

Nối những tâm hồn đơn lạnh với yêu thương.

 

Anh đã quỳ trước ngôi chùa cổ

Đã chìm sâu đáy hồ

Nước hồ tràn dâng bát ngát

Như lòng vũ trụ bao la

Có mồ hôi nước mắt ông bà

Cũng là nơi linh hồn ta siêu thoát.

 

Anh nâng niu từng viên gạch mật

Anh gọi là “phong bao”

Vì đó là món quà của trời và đất

Cho ta cái vốn ban đầu.

 

Anh gọi thác nước quê anh là thổ cẩm

Chiếc én bay là chiếc thoi trời

Hàng duối quê anh nghìn tuổi

Anh ngỡ Ngô Quyền vừa mới buộc voi

Nay là nơi từng đôi trai gái

Dựa xe ngồi nói chuyện ngày mai.

 

Anh nhìn thấy những ngấn nâu trên núi cao

Dấu tích Thuỷ Tinh cơn giận dâng trào

Anh thấy trên lối mòn Mị Châu che miệng cười trên kiệu

Khi về đây từ đất Phong Châu

Từ thuở qua sông chưa có chiếc cầu.

 

Đời anh nhiều mất mát riêng tư

Nhưng thơ anh vẫn ngợi ca sự sống

Không phải vì anh coi thơ là lý tưởng

Hay là nơi ẩn dật của linh hồn

Mà vì anh coi thơ là con đường

Đưa anh về với quê hương nguồn cội…

 

15-1-2011

 

 

 

 

Một gia đình về quê ăn Tết

 

 

Vợ hỏi chồng: Quê anh ở đâu?

- Anh không rõ

Cha mẹ mất từ lâu

Khi anh còn rất nhỏ

Quê hương anh là trại trẻ mồ côi.

 

Chồng hỏi vợ: Quê em ở đâu?

- Em không rõ thất lạc mẹ cha từ khi chưa biết nhớ

Bố mẹ nuôi xưa cũng không biết nơi nào.

 

Hai đứa con lớn lên

Hỏi quê cha mẹ để trả lời cô giáo

Cha mẹ đành nói dối:

- Quê các con là xóm thợ nhà mình.

 

Những đứa trẻ không tin

Vì thấy bạn bè chúng đều có quê để về ăn Tết

Người mẹ liền viết thư hỏi bố mẹ nuôi

Ông bố nuôi trả lời: “Bố không biết vì sống sót hồi tháng ba năm đói

Làm con nuôi bộ đội

Rồi vào thiếu sinh quân”.

Đến lượt bà mẹ nuôi: “Chiến tranh làm thất lạc

Chỉ nhớ quê có lô cốt giặc

Mẹ được đại đội thanh niên xung phong nuôi

Và cho đi học”.

Chợt ông bố nuôi nhớ ra một người anh kết nghĩa

Ông viết thư cho anh xin được nhận quê

Để hàng năm vợ chồng con cái được đi về…

Và người anh đồng ý.

 

Thế là từ năm ấy

Lũ trẻ có quê để về ăn Tết

Cả nhà náo nức

Ông bà nuôi và cha mẹ chúng cũng hoá thành trẻ thơ.

 

23-1-2011

 

 

 

 

 

 

ĐỖ HOÀNG

 

 

Hạt lúa Vũng Tàu

 

 

Bỗng đột ngột hiện ra ruộng lúa

Giữa bốn bề biển núi phố trời xanh

Như màu áo của em dân dã

Lại tươi xinh sắc mới thị thành.

 

Tôi bỡ ngỡ ngắm nhìn ô ruộng

Nhỏ nhoi sao thân thiết quá chừng

Hạt gạo nuôi triệu triệu người sống

Vượt qua tầng bom đạn tái sinh!

 

Mùi bùn ấy ngấn một đời áo mẹ

Chẽn bông nào không nặng giọt mồ hôi

Khi bước lên trên tầng cao ốc

Nghe rõ hơn mầm lúa gọi bao đời!

 

Trời và biển em và phố núi

Một chân dung riêng lạ Vũng Tàu

Những hạm thuyền mang hình hạt lúa

Từ nơi em nên chuyến khởi đầu!

 

 

 

Cầm Thơ - Cần Thơ

 

 

Cần Thơ hay là Cầm Thơ(*)

Để trời đất ấy thực như mơ

Phố đêm neo mộng người trăm ngả

Ninh Kiều in dấu lối tiên xưa.

 

Mắt ai ngấn lên bờ sông Hậu

Cần Thơ cô gái đứng trên bờ

Vẫy những con tàu về cập bến

Đan dệt lòng anh những phiến dừa!

 

Ở đây thời gian không năm tháng

Lửa cháy tim anh cứ bập bùng

Ngọn đuốc tầm vông từng thắp sáng

Cửu Long Giang xứ sở tiên rồng!

 

Quá độ bình nguyên mà gặp núi

Bóng tháp nhà cao dựng giữa trời

Ôi giọt mồ hôi còn đọng lại

Của cha ông bùn đất bao đời!

 

Như dòng sông Hậu trôi không mỏi

Con lại về đây hỡi ruột rà

Cả một đồng bằng đang đi tới

Tim người cuồn cuộn sóng phù sa.

 

Nắng đan ngày mới triều đang lớn

Lúa trải mượt vàng chín lựng tơ

Em đi mỗi bước thành thi tứ

Cho Cầm Thơ mãi mãi Cần Thơ!

 



(*) Cầm Thơ tên cũ của thành phố Cần Thơ hôm nay.

 

 

 

NGÔ ANH QUỸ

 

Dòng sông cha

 

 

Con đi công tác xa

Cha không nói

Chỉ nhìn con đau đáu…

 

Hai mươi ngày sau

Nhận tin dữ

Con về

Ba tấc đất sâu

Lặng ngắt

Lòng con cuộn thắt!

 

Lần gặp cuối con hỏi cha cần gì?

Cha chỉ nói

Điều đơn giản cha mong

Dòng sông cha không bao giờ cạn đứt

Khát tiếng trẻ thơ ấm cửa ấm nhà.

 

Phận mồ côi cha tiếp nối ông bà

Xây nền móng cho con cho cháu

Đường cày thẳng một đời ngay thẳng

Nhìn sao đêm biết nắng biết mưa

Ruộng cạn đồng sâu tránh mọi lọc lừa

Dòng sông cha không bao giờ cạn đứt.

 

Xuân Tân Mão 2-2011

 

 

 

 

 

 HOÀNG KHẮC BÁ

 

Hoàng hôn trên sông Tiền

 

 

Những mảng lục bình xanh

Trôi từ sông Tiền ra biển

Bắc Mỹ Thuận cầu treo cáp rung rinh

Nối đôi bờ ngọt ngào cây trái

Trời đằng Tây chân mây rực hồng

Hoàng hôn chầm chậm xuống

Mênh mông cánh đồng rì rào lượn sóng

Lắt lẻo cành tre những con cò trắng…

 

Những mảng lục bình trôi

Màu hoa tím không còn ở lại

Em có là hoa lục bình

Để lòng anh côi cút mãi?

More...

TRANG THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐƯỢC CHỌN IN

By le trung tiet

TRANG THƠ DỰ THI “THƠ CA VÀ NGUỒN CỘI” ĐƯỢC CHỌN IN

KHANG SAO SÁNG

 

BẾN GIO

 

 

Vượt cầu treo Bãi Cháy

Xuôi Bến Gio lối vòng

Niềm vui oà Hạ Long

 

Bến cá hanh hao nắng

Rét giá còn cóng tay

Ký ức dệt xanh ngày

 

Biển thương bờ núi khuất

Thuyền cá chênh vênh chờ

Giữa mênh mông bến mơ

 

Bán mua người đon đả

Biển xanh say thực lòng

Bến Gió ngày ước mong

 

Nơi này vầng trăng dãi

Nơi này lòng biển sâu

Nơi này ta xa nhau…

 

Quảng Ninh 14-1-2011

 

 

 

ĐỒNG VĂN

 

 

Đồng Văn

Dốc núi mở - đường quanh co

Thung sâu hút khói tỏ mờ

Dòng Nho Quế dầm mình vách đá

 

Đồng Văn

Chiều rời quán chân xiêu bóng đổ

Trai gái Mông xuống núi chơi vơi

Vợ dìu chồng lưng ngựa lui cui

 

Đồng Văn

Bể nước treo trĩu lệch vai rừng

Ngô đội đá mọc xanh mầm đá

Mùa gối mùa bắp đỏ trên thưng

 

Đồng Văn

Mắt mòn cung điện

Mơ thành trái ngọt

Đất linh kết tụ… trăm miền

 

Đồng Văn

Lũng Cú

Đỉnh non sừng sững hồn cờ

Hạt mùa gieo khắp

Đất trời non nước vào thơ.

 

Hà Giang 10-5-201

 

 

 

ƯỚC DÀI RỘNG ĐẾN MAI SAU

 

 

Con về gió lặng chiều rơi

Phơ phơ tóc mẹ trắng trời… gió mưa

Bờ quê nghiêng mấy thân dừa

Còng như dáng mẹ sớm trưa tảo tần

 

Trăng xưa vẫn sáng sân đình

Hàng cau thêm đốt sao mình lạ quen

Xóm Chùa giờ chẳng gặp em

Mơ đôi tay dẻo hái sen thuở nào

Xa bao mùa mận mùa đào

Bãi còn bồi lở sông nào chẳng đau…

 

Ước dài rộng đến mai sau

Con về mẹ vẫn đỏ au miếng trầu.

 

29-12-2010

 

 

 

 

 

 

 

BÀN HỮU TÀI

(Dân tộc Dao)

 

CHÂN NÚI

 

 

Tiếng khóc chào đời con gào tên núi(*)

Ngọn núi cao vút “bọ”(**) Lũng Sen

Ngọn núi càng cao cây trơ trụi

Chân núi càng thấp cây xanh rờn

Lưng mẹ còng bời gùi ngô xuống núi

Mẹ sinh con khi gồng gánh trên đèo

Hơi thở đầu tiên con hít khí núi

Âm thanh đầu con nghe tiếng suối reo

Quanh năm mẹ gùi gánh leo trèo

Lưng mẹ gùi sắn

Trước ngực địu con

Khuôn mặt mẹ cháy nắng

Áo mẹ đẫm mồ hôi

Tỉnh giấc con tưởng mưa giột nôi

Lũng Sen ơi! Làm sao con quên được

Người đã nuôi con từ củ sắn bắp ngô

Người cho con củi đốt lên ánh lửa đỏ

Cho con rừng hoa và tiếng chim gù…

 

Thái Nguyên 2009

 

 

(*) Ý thơ Tằng A Tài.

(**) Tiếng Dao nghĩa là núi núi Lũng Sen thuộc xã Công Trừng - Hoà An - Cao Bằng. Chân núi này là nơi chôn nhau cắt rốn của tác giả.

 

 

NHỮNG MÙA ĐÔNG XƯA

 

 

Rảo bước trên phố nhỏ

Chạm ngọn gió đầu mùa

Gió lạnh từ muôn thuở

Những mùa đông năm xưa

 

Áo mới mẹ chưa mua

Ngồi quanh bên bếp lửa

Đợi mẹ vá áo cũ

Cho cả đàn con thơ

 

Bữa ăn tối chiều trưa

Lại ngồi quanh bếp lửa

Chẳng may ai rơi đũa

Cháy cả đũa thành tro

 

Phên vách nhà hở khe

Đêm gió lùa lạnh quá

Than gần giường bà ngủ

Cháy cả góc chăn bà…

 

Nay rảo bước trên phố

Khẽ chạm gió đầu mùa

Tôi lắng nghe trong gió

Từ mùa đông năm xưa.

 

Thái Nguyên 5-10-2010

 

 

 

 

 

NGUYỄN THỊ KIM VINH

 

 

ÁO TỨ THÂN

 

 

Chiếc áo tứ thân

Em chưa biết có tự bao giờ

Chỉ thấy trên chiếu Chèo

Và giữa màn giao duyên Quan họ…

 

Một sớm tình cờ

Được mặc áo tứ thân

Em chụp hình bên bậu cửa

Thấy mình dịu dàng kín đáo nết na.

 

Em trở về ký ức những ngày xa

Thấy mẹ tảo tần hôm sớm

Thấy trên đồng hương cốm

Văng vẳng câu hò điệu hát lời ru…

 

2007

 

 

 

ĐI BỆNH VIỆN

 

 

Em bước

Từng bậc thang bệnh viện

Cảm nhận

Sự ngắn ngủi một kiếp người

Năm tháng

Đâu đủ dài

Trong em

Cồn cào cơn khát

Khát

Được khám phá và cống hiến

Khát

Được đi đến tận cùng yêu thương.

 

2008

 

 

NGUYỄN THỊ TUYẾT

 

VỀ THĂM BẢN LÁC

 

 

Về thăm bản Lác(*) chiều xuân

Núi ngơ ngẩn núi

Mây tần ngần mây

Hồn thơ Tây Tiến dâng đầy

Mùa em thơm…

Nếp hương bay loãng chiều

 

Đến Mai Châu

Nhớ khăn Piêu

Thoi thưa nhỡ nhịp

Khung thêu nhớ người

Nỗi niềm thổ cẩm đầy vơi

Sín Kiềng(**)

Tẳng Cẩu(***)

Em tôi ngại ngùng…

 

Trống chiêng

Sạp nổi

Sàn rung

Sao không nổi lửa cho hồng má em?

 

Mai Châu Xuân 2010

 



 

 

 

(*) Bản Lác thuộc huyện Mai Châu tỉnh Hoà Bình. 

(**) Váy áo của con gái Thái Trắng.

(***) Búi tóc của con gái Thái. 

 

 

XỨ NHÃN

Tặng quê hương Ba Xã Tiên Nữ Hưng Yên

 

 

“Quê anh mùa úng chiêm khê

Anh cưới em về biết sống nơi đâu”

Lời xưa không cứa mà đau

Nửa đời vẫn gánh theo câu thơ buồn!

 

Đồng run nước ngập mưa tuôn

Mẹ đi rủi tép đẫy đêm sang ngày

Em tôi ngâm nước rũ đay

Sợi tơ thì trắng đôi tay thì bầm

 

Quê xưa lam lũ nhọc nhằn

Tuổi thơ lênh nổi biệt tăm cánh bèo

Tìm về làng cũ quê nghèo

Đường xa ngắn lại

Chân theo bước dồn

 

Vẫn xanh rặng nhãn đầu thôn

Lộc non chồi biếc hoa đơm chen đường

Vẫn vàng nắng đổ sân trường

Ai thay ngói đỏ

Vươn tường nhà cao

 

Đường về gió gọi lao xao

Tôi đem nhung nhớ dệt vào sợi tơ

Tìm về xứ Nhãn mộng mơ

Ngày về mang cả hồn thơ về cùng!

 

Hưng Yên 8-2000

 

 

 

 

 

 

NGUYỄN THỊ KHÁNH VÂN

 

NHỮNG NGƯỜI ĐÀN BÀ MẶC ÁO ĐEN

 

 

Tôi bất chợt nhìn vào bãi tha ma

Kìa! Một đám tang rất lạ

Ở đằng xa sau đám tang

có những người đàn bà mặc áo đen

Chỉ có điều họ không đến gần

Tôi thấy nỗi đau hiện trên khuôn mặt họ

như đang mất một người thân

Họ đều giống nhau

nhìn về đám tang đau đáu

Tôi lặng lẽ nhìn vào nơi ấy

Chợt hiểu nỗi đau của họ

Hình như muốn cùng chia sẻ điều gì

trước một người đàn ông xấu số ra đi

Chỉ có điều rất lạ

chẳng một ai đến gần?...

More...